CHƯƠNG I TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Tín dụng ngân hàng Theo quan điểm của trường phái kinh tế mới (lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh), Mankiw (1992), King và Levine (1993) nhấn mạnh rằng một khu vực tài chính vững mạnh có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, đổi mới công nghệ (TFP), nghiên cứu và phát triển (R&D) thông qua các kênh cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp và hộ kinh tế gia đình. Hơn thế nữa, một khu vực tài chính vững mạnh không chỉ giới hạn chức năng huy động các nguồn vốn trong nước mà còn có chức năng rất lớn tới thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn bên ngoài nền kinh tế như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn đầu tư gián tiếp (FPI). Trong khi đó, các nhà kinh tế theo quan điểm lý thuyết ngân hàng thì nhấn mạnh vai trò của các NHTM trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế theo quan điểm này cho rằng trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển các NHTM không chỉ là các kênh huy động vốn quan trọng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế mà còn có chức năng giảm thiểu các rủi ro tài chính thông qua việc cung cấp thông tin và tư vấn cho các nhà đầu tư.
Stiglitz (1985) và Bhide (1993) chứng minh thông qua mối quan hệ chặt chẽ, giám sát, và tư vấn các hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp và hộ gia đình, các NHTM có thể giảm thiểu các tác động tiêu cực của hiện tượng bất đối xứng thông tin trong các nền kinh tế kém phát triển gây ra. Do vậy, các NHTM có thể phân bổ nguồn vốn một cách hiệu quả, giảm thiểu các rủi ro tài chính, và tránh tạo ra các cú sốc về tài chính đối với các nền kinh tế đang phát triển. Các nghiên cứu định lượng về mối quan hệ giữa khu vực tài chính (cụ thể NHTM) với tăng trưởng kinh tế đã chứng minh có mối liên hệ chặt chẽ giữa hoạt động tín dụng NHTM với hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp và hộ gia đình từ đó đóng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 12 góp cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thông qua nghiệp vụ tín dụng NHTM cung cấp vốn cho các doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.1 Tổng quan về tín dụng trong nền kinh tế Tín dụng được hiểu là sử dụng sự tin tưởng, tín nhiệm để vay mượn một lượng giá trị dưới dạng vật chất hay tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định từ người cho vay dang người đi vay với những điều kiện nhất định và sau khoảng thời gian vay mượn thì người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn ban đầu.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều những quan điểm về hoạt động của tín dụng khác nhau, cụ thể như: - Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ tiền tệ thì tín dụng là sự dịch chuyển quỹ tiền tệ của chủ thể này(người tiết kiệm, thặng dư vốn) sang quỹ tiền tệ chủ thể khác (người có nhu cầu, thiếu vốn) - Xét trên gốc độ quan hệ tài chính thì tín dụng lại được hiểu là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả giữa 2 chủ thể. - Xét trên góc độ sử dụng vốn: tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ thể này trong một thời hạn nhất định với những điều kiện nhất định và cũng trên cơ sở có sự hoàn trả Vậy tín dụng được hiểu là mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay thông qua chuyển nhượng một lượng giá trị với những điều kiện nhất định, sau một khoản thời gian xác định người đi vay trả lại cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn ban đầu.2 Nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển tín dụng Sản xuất hàng hóa được xem là nguyên nhân ra đời của tín dụng. Do đó, ở bất cứ xã hội nào có tồn tại hoạt động sản xuất hàng hóa tất yếu có quá trình hoạt động của tín dụng. Hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện ở các công ty và xí nghiệp hay hộ gia đình.
Trong quá trình thực hiện sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể có mối quan hệ trao đổi, mua bán với nhau, hàng hóa công ty này sẽ là nguyên liệu của doanh nghiệp kia v. và hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho xã hội. Phục vụ cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 13 quá trình trao đổi mua bán đòi hỏi phải có tiền tệ làm vật trung gian nên tiền tệ(vốn) của các công ty, xí nghiệp liên tục trải qua nhiều giai đoạn và biểu hiện dưới các hình thái khác nhau. Quá trình tuần hoàn vốn thể hiện qua quy trình sau : T – H – SX – H’ – T’.
Tuy nhiên, ở mỗi công ty hay xí nghiệp thì có lúc thiếu vốn sản xuất kinh doanh, có lúc thừa vốn, thực tế quá trình sản xuất kinh doanh thường xảy ra hiện tượng: - Một nhóm những công ty, xí nghiệp có vốn tạm thời chưa sử dụng - Một nhóm những xí nghiệp khác lại có nhu cầu cần bổ sung vốn tạm thời. Sở dĩ có hiện tượng này là vì chu kỳ sản xuất và tính thời vụ ở mỗi công ty và xí nghiệp, mỗi ngành kinh tế không giống nhau, trong khi đó sản xuất là một quá trình liên tục. Vì vậy, sẽ có hiện tượng có doanh nghiệp thừa vốn, ngược lại có doanh nghiệp khác thiếu vốn. Đây là hiện tượng khách quan tồn tại trong quá trình tái sản xuất xã hội, đồng thời nó là mâu thuẫn quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn.
Chính điều này đòi hỏi phải có tín dụng làm cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu. Đối với các công ty, xí nghiệp lợi nhuận tích lũy dùng để đầu tư có giới hạn, do đó muốn thực hiện được nhu cầu mở rộng sản xuất cần thiết phải nhờ đến nguồn vốn trong xã hội. Nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu này là vốn tiết kiệm xã hội, bao gồm vốn tiết kiệm của các nhà kinh doanh, vốn tiết kiệm cá nhân và của ngân sách nhà nước. Mặt khác, chúng ta đều biết rằng mỗi khoản tiết kiệm đều có một mục đích sử dụng nhất định như tiết kiệm để mua nhà hay mua xe hoặc mở rộng sản xuất v.
mục đích tiết kiệm có thể được thực hiện ngay hoặc là phải sau một thời gian.Và khi chưa sử dụng vào mục đích đã định thì được xem là khoản sinh lời bằng cách cho người có nhu cầu hiện tại sử dụng tạm thời nguồn tiền tiết kiệm để tìm kiếm giá trị cao hơn trong tương lai và nhanh chóng thực hiện mục tiêu. Như vậy sự phát triển của tín dụng xuất phát từ nhu cầu tiết kiệm và nhu cầu đầu tư hay tín dụng được xem là cầu nối tiết kiệm và đầu tư.3 Bản chất tín dụng Như đã đề cập ở trên, thực chất tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 14 được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa. Vậy bản chất tín dụng thể hiện ở quá trình vận động vốn qua các giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay từ người cho vay sang người đi vay. - Giai đoạn 2: Quá trình sử dụng vốn của người đi vay : sử dụng vốn cho quá trình tái sản xuất hoặc tiêu dùng tạo ra một lượng giá trị mới lơn hơn góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Giai đoạn 3: Sự hoàn trả tín dụng. Giai đoạn này vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay và lượng giá trị hoàn trả lại lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Từ sự phân tích bản chất tín dụng ở trên cho thấy tín dụng có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Mang lại lợi ích không chỉ cho các cá nhân, tổ chức tham gia quá trình hoạt động tín dụng mà góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.4 Các hình thức tín dụng 1.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia hoạt động tín dụng, tín dụng được chia làm các loại sau: a.
Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp, được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Sự vận động và phát triển của hình thức tín dụng thương mại gắn liền với sản xuất và trao đổi hàng hóa. Tín dụng Ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân. Đặc điểm hình thức này là Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác được xem là cầu nối giữa tiết kiệm và tiêu dùng, chúng vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Tín dụng Ngân hàng được xem là hình thức tín dụng phổ biến và có vai trò qua trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng mà trong đó Nhà nước biểu hiện là người đi vay. Chủ thể trong tín dụng nhà nước bao gồm người đi vay là Nhà nước Trung Ương và Nhà nước địa phương, mục đích đi vay là bù đắp bội chi ngân sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tín dụng quốc tế: là quan hệ tín dụng giữa Chính phủ các nước với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm hỗ trợ trong việc phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.2 Căn cứ theo thời gian chuyển nhượng giá trị giữa người cho vay và đi vay thì tín dụng gồm: a. Tín dụng ngắn hạn1 là loại tín dụng có thời gian vay vốn dưới một năm. Tín dụng ngắn hạn được sử dụng để bổ sung vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân. Tín dụng trung hạn2: là hình thức tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
Tín dụng trung hạn nhằm cung cấp để doanh nghiệp mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.