Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn từ năm 1991 đến 2003, ngành du lịch tỉnh Bình Thuận đã chứng kiến bước chuyển mình ngoạn mục với mức tăng trưởng lượng khách bình quân đạt 32,6%/năm, doanh thu toàn ngành tăng từ mức 7.045 triệu đồng năm 1991 lên tới 285.000 triệu đồng vào năm 2003, tức gấp 40,5 lần. Sau cột mốc quan sát nhật thực toàn phần vào năm 1995, Mũi Né - Phan Thiết nhanh chóng vươn lên thành một trọng điểm nghỉ dưỡng mới của cả nước. Tuy nhiên, sự tăng trưởng ban đầu mang tính tự phát đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: hạ tầng cơ sở thiếu đồng bộ, sản phẩm du lịch đơn điệu, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế và áp lực cạnh tranh gay gắt từ các điểm đến lân cận như Khánh Hòa hay Bà Rịa - Vũng Tàu.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng và xác định vị thế cạnh tranh của du lịch Bình Thuận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh ngành, phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch địa phương, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao sức cạnh tranh đến năm 2010. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian toàn tỉnh Bình Thuận với trọng tâm là các khu vực ven biển Phan Thiết, Hàm Thuận Nam, Tuy Phong và dữ liệu thực chứng kéo dài trong giai đoạn 1991-2003, định hướng dự báo đến năm 2010. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch từ 7,6% GDP toàn tỉnh năm 2003 lên các mốc cao hơn vào năm 2010, đồng thời thúc đẩy mục tiêu đón 405.000 lượt khách quốc tế và 1.652.000 lượt khách nội địa vào cuối kỳ quy hoạch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter, đặc biệt là mô hình 5 áp lực cạnh tranh (gồm đối thủ tiềm năng, đối thủ hiện tại trong ngành, sản phẩm thay thế, quyền lực nhà cung ứng và quyền lực khách hàng) kết hợp cùng lý thuyết chuỗi giá trị và ba chiến lược cạnh tranh tổng quát: chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược trọng tâm hóa. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp quan điểm phát triển du lịch bền vững theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), coi trọng việc cân bằng giữa khai thác lợi ích kinh tế với bảo tồn tài nguyên sinh thái và bản sắc văn hóa bản địa. Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: sản phẩm du lịch (sự kết hợp của dịch vụ và phương tiện vật chất thỏa mãn trải nghiệm du khách), năng lực cạnh tranh ngành du lịch (khả năng tạo ra giá trị gia tăng vượt trội và duy trì thị phần bền vững), tài nguyên du lịch theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999 (yếu tố tự nhiên và nhân văn tạo sức hấp dẫn) cùng các mô hình cấu trúc sản phẩm như 4S và 3H.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả vận dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp các kỹ thuật phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh tổng hợp, phương pháp dự báo chuỗi thời gian và xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh gồm 5 bước tiêu chuẩn. Về nguồn dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu thu thập toàn bộ hệ thống số liệu báo cáo định kỳ giai đoạn 1991-2003 từ Sở Thương mại - Du lịch Bình Thuận, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Du lịch cùng các báo cáo của UNWTO với tổng số 130 dự án đầu tư hạ tầng trị giá 120.104 triệu đồng và 272 dự án đầu tư du lịch được theo dõi.

Về dữ liệu sơ cấp và khảo sát, cỡ mẫu phân tích bao gồm 25 điểm tham quan, 21 nhà hàng đạt chuẩn, cùng hệ thống mẫu đại diện từ 2.895 buồng phòng lưu trú trên địa bàn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện, phân bổ theo các thành phần kinh tế (khu vực có vốn FDI chiếm 20,8%, kinh tế tư nhân chiếm 45,9% và nhà nước chiếm 33,3%). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh và ma trận cạnh tranh là nhằm lượng hóa chính xác vị thế tương quan của Bình Thuận so với các đối thủ trực tiếp như Khánh Hòa và Bà Rịa - Vũng Tàu, từ đó tạo tiền đề cho các dự báo giai đoạn 2004-2010 với độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng quy mô du khách vượt bậc nhưng cơ cấu thị trường mất cân đối: Tốc độ tăng trưởng khách quốc tế của Bình Thuận đạt 40,68%/năm và khách nội địa đạt 53,91%/năm trong giai đoạn 1993-2003, cao hơn nhiều so với bình quân cả nước (lần lượt là 16,26% và 10,95%). Tuy nhiên, khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo từ 88% đến 90%, trong khi khách quốc tế chỉ chiếm khoảng 17% và chiếm vỏn vẹn 2,4% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam.

Thứ hai, doanh thu du lịch tăng trưởng cao nhưng cơ cấu chi tiêu và ngày lưu trú còn thấp: Doanh thu toàn ngành tăng trưởng bình quân 36,1%/năm, đạt 285.000 triệu đồng năm 2003. Dù tỷ trọng doanh thu lưu trú tăng lên 33,32% và ăn uống đạt 35,1%, song thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt dưới 2 ngày/khách và mức chi tiêu của khách nội địa chỉ dao động từ 16,5 đến 20 USD/người/ngày.

Thứ ba, sự bùng nổ hạ tầng lưu trú dẫn đến suy giảm công suất phòng: Số lượng buồng phòng tăng mạnh từ 238 phòng năm 1994 lên 2.895 phòng năm 2003, nhưng công suất sử dụng phòng lại sụt giảm từ mức 80% - 85% (giai đoạn 1991-1995) xuống chỉ còn 52% - 55% (giai đoạn 2000-2003) do tốc độ phát triển buồng phòng vượt quá tốc độ tăng của nguồn khách.

Thứ tư, nguồn nhân lực và hạ tầng kỹ thuật bộc lộ điểm nghẽn lớn: Toàn ngành có 9.500 lao động năm 2003 nhưng trình độ đại học chỉ có 175 người, trung cấp 225 người; trình độ ngoại ngữ bậc C chỉ đạt 7,1%, bậc B đạt 11,2%, gây rào cản cho phân khúc khách quốc tế cao cấp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ việc phát triển du lịch ban đầu mang tính tự phát, quy hoạch chi tiết chưa đồng bộ và thiếu sản phẩm du lịch đặc trưng. So sánh với các nghiên cứu về điểm đến lân cận, lượng khách quốc tế của Bình Thuận năm 2003 chỉ bằng 37% của Khánh Hòa và 27% của Bà Rịa - Vũng Tàu. Về mặt cạnh tranh, Bình Thuận có lợi thế giá rẻ và tài nguyên biển độc đáo (như đồi cát Mũi Né, 192 km bờ biển) nhưng yếu hơn hẳn đối thủ về độ phong phú sản phẩm và nguồn vốn ngân sách đầu tư.

Để tối ưu hóa việc truyền tải dữ liệu, các biến số này có thể được trình bày qua biểu đồ cột chồng thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu doanh thu (lưu trú, ăn uống, dịch vụ) và bảng ma trận hình ảnh cạnh tranh so sánh 5 tiêu chí then chốt giữa Bình Thuận, Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu và Ninh Thuận. Ý nghĩa của phát hiện khẳng định Bình Thuận không thể tiếp tục cạnh tranh bằng việc mở rộng ồ ạt cơ sở lưu trú thông thường, mà bắt buộc phải chuyển sang chiến lược khác biệt hóa sản phẩm, gắn bảo tồn môi trường biển và nâng cao giá trị gia tăng trên mỗi ngày lưu trú.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái định vị và mở rộng thị trường mục tiêu: Sở Thương mại và Du lịch Bình Thuận chủ trì liên kết với các hãng lữ hành lớn tại TP. Hồ Chí Minh nhằm phát triển dòng sản phẩm du lịch cuối tuần, đặt mục tiêu thu hút 1.652.000 lượt khách nội địa và 405.000 lượt khách quốc tế vào năm 2010, nâng mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế từ 61 USD lên 100 USD/người/ngày trong giai đoạn 2006-2010.

Thứ hai, đa dạng hóa và khác biệt hóa sản phẩm du lịch biển - văn hóa: Hiệp hội Du lịch và các doanh nghiệp nghỉ dưỡng ven biển triển khai ngay trong giai đoạn 2004-2008 các gói dịch vụ thể thao biển cao cấp (lướt ván buồm, lặn biển ngắm 146 loài san hô) kết hợp khai thác 23 di tích cấp quốc gia và lễ hội truyền thống như Ka-tê, Nghinh Ông, nhằm kéo dài thời gian lưu trú bình quân từ dưới 2 ngày lên mức trên 2,5 ngày/khách.

Thứ ba, hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng và bảo vệ môi trường sinh thái: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, nâng cấp hoàn chỉnh các tuyến đường ven biển trọng điểm như Mũi Né - Hòa Thắng, Phan Thiết - Kê Gà; đồng thời bắt buộc 100% cơ sở lưu trú ven biển lắp đặt hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn trước năm 2007, kiểm soát nghiêm mật độ xây dựng không vượt quá 20% và chiều cao tối đa không quá 3 tầng.

Thứ tư, nâng chuẩn đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phối hợp cùng doanh nghiệp triển khai đề án đào tạo nghiệp vụ chuẩn hóa cho 9.500 lao động toàn ngành, nâng tỷ lệ lao động có chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh trình độ B và C từ mức 18,3% lên trên 45% vào năm 2010, đáp ứng tiêu chuẩn phục vụ tại các resort cao cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Cán bộ thuộc Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư có thể sử dụng hệ thống số liệu giai đoạn 1991-2003 cùng các chỉ tiêu dự báo đến năm 2010 để xây dựng quy hoạch không gian du lịch và phân bổ hợp lý nguồn vốn ngân sách cho 130 dự án hạ tầng trọng điểm.

Thứ hai, các nhà đầu tư và chủ doanh nghiệp du lịch: Doanh nghiệp kinh doanh resort, khách sạn có thể ứng dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter và các dữ liệu thực chứng về công suất phòng (52% - 55%) để định vị phân khúc khách hàng, kiểm soát chi phí và xây dựng chuỗi dịch vụ khác biệt.

Thứ ba, các công ty lữ hành và đơn vị vận chuyển: Đội ngũ thiết kế tour có thể khai thác các thông tin về 192 km bờ biển cùng 25 điểm đến danh lam thắng cảnh để xây dựng các gói tour liên tỉnh kết nối TP. Hồ Chí Minh - Bình Thuận - Đà Lạt - Nha Trang với chi phí tối ưu.

Thứ tư, giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu học thuật: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị kinh doanh và Du lịch học có thể tham khảo phương pháp lập ma trận hình ảnh cạnh tranh và khung lý luận phát triển bền vững để làm tài liệu đối chiếu cho các đề tài nghiên cứu kinh tế điểm đến.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đâu là bước ngoặt lịch sử thúc đẩy du lịch Bình Thuận bứt phá? Sự kiện nhật thực toàn phần ngày 24/10/1995 đã đưa Mũi Né - Phan Thiết trở thành tâm điểm chú ý quốc tế. Từ mốc 22.162 lượt khách năm 1991, địa phương đã thu hút lượng khách tăng trưởng bình quân 56,5%/năm trong giai đoạn 1996-2000, mở đường cho hàng loạt khu nghỉ dưỡng ven biển hình thành.

  2. Vì sao công suất sử dụng buồng phòng tại Bình Thuận lại sụt giảm sau năm 2000? Công suất phòng giảm từ mức 80% - 85% giai đoạn 1991-1995 xuống 52% - 55% giai đoạn 2000-2003 do số lượng buồng phòng tăng nóng hơn 12 lần (từ 238 phòng lên 2.895 phòng), vượt xa tốc độ tăng trưởng lượng khách thực tế và tính chất mùa vụ du lịch.

  3. Cơ cấu thị trường khách du lịch của Bình Thuận có đặc điểm gì nổi bật? Khách nội địa chiếm tỷ trọng áp đảo 88% - 90%, chủ yếu đến từ TP. Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ vào các dịp cuối tuần. Khách quốc tế chỉ chiếm khoảng 17%, trong đó thị trường Châu Âu dẫn đầu với 54,8% (Pháp, Đức, Anh), tiếp đến là Châu Á với 22,7%.

  4. Những yếu tố nào cản trở năng lực cạnh tranh của du lịch địa phương? Rào cản lớn nhất nằm ở hạ tầng giao thông kết nối chưa hoàn chỉnh, thiếu hụt các khu vui chơi giải trí cao cấp, 100 bộ xương cá voi tại Vạn Thủy Tú và 23 di tích cấp quốc gia chưa được quảng bá xứng tầm, cùng tỷ lệ lao động đạt ngoại ngữ trình độ C chỉ ở mức 7,1%.

  5. Mục tiêu chiến lược của ngành du lịch Bình Thuận đến năm 2010 là gì? Đến năm 2010, ngành phấn đấu đạt 1.652.000 lượt khách nội địa và 405.000 lượt khách quốc tế, tạo tổng doanh thu 2.780 tỷ đồng (gồm 840 tỷ từ khách quốc tế và 1.940 tỷ từ khách nội địa), đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và lượng hóa toàn diện năng lực cạnh tranh của du lịch Bình Thuận với tốc độ tăng trưởng doanh thu 36,1%/năm trong giai đoạn 1991-2003.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn nội tại về công suất buồng phòng (52% - 55%) và hạn chế chất lượng nguồn nhân lực với chỉ 175 nhân sự có trình độ đại học.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện theo định hướng phát triển bền vững và khác biệt hóa sản phẩm dựa trên 192 km bờ biển cùng 23 di tích lịch sử quốc gia.
  • Xác lập lộ trình hành động cụ thể từ 2004 đến 2010 nhằm đạt mốc đón 405.000 lượt khách quốc tế và 1.652.000 lượt khách nội địa.
  • Đóng góp khung phương pháp luận thực tiễn giúp địa phương chuyển dịch cơ cấu GDP du lịch từ 7,6% năm 2003 lên vị thế ngành kinh tế động lực.

Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu hãy chủ động ứng dụng khung phân tích chiến lược này ngay hôm nay để tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và gia tăng sức cạnh tranh cho điểm đến du lịch.