Chương 1: NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI - NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Theo “Quản trị Ngân hàng thương mại” của Peter S.Rose (2004), “ngân hàng là loại hình tồ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010 thì “Ngân hàng thương mại là một loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo qui định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Và luật này định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng”. Do đó, ta có thể hiểu tổ chức tín dụng được thành lập theo qui định của Luật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Hoạt động ngân hàng theo Luật tổ chức tín dụng là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. -5- Tóm lại, ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính tiền gửi và cho vay tiền; là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng để nhận ký thác, cho vay và cung ứng những dịch vụ tài chính.
Chức năng của ngành kinh doanh dịch vụ ngân hàng 1. Chức năng trung gian tài chính Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản của ngân hàng thương mại, góp phần quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. NHTM huy động vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp trong nền kinh tế; mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được sẽ cho vay để đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế. NHTM đã làm được chức năng trung gian tài chính thông qua hai nghiệp vụ huy động và cho vay.
Chức năng trung gian thanh toán Các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng để thực hiện việc thanh toán. Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo yêu cầu khách hàng bằng các phương tiện thanh toán: ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu… Với chức năng này, NHTM đã góp phần thúc đẩy quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và tiết kiệm chi phí. Ngày nay, sự trao đổi và mua bán hàng hóa vượt ra khỏi biên giới quốc gia, có sự tham gia của nhiều tổ chức cá nhân ở nhiều quốc gia khác nhau, chức năng trung gian thanh toán của NHTM càng thể hiện rõ vị trí quan trọng. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Cung ứng các dịch vụ khác: Ngoài chức năng trung gian tài chính và trung gian thanh toán, NHTM còn cung ứng các dịch vụ khác cho nền kinh tế như: cho thuê két sắt, góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, tư vấn đầu tư tài chính, kinh doanh ngoại hối, cung ứng các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro tiền tệ cho các doanh nghiệp swap, forward… 1. Đặc điểm của ngân hàng thương mại liên doanh: Ngân hàng thương mại liên doanh là một ngân hàng thương mại nên có đầy đủ các đặc điểm của ngân hàng thương mại: - NHTM là một doanh nghiệp đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng. Các hoạt động của NHTM nhằm thúc đẩy và lưu chuyển các dòng tiền tệ phục vụ cho việc giao dịch, thanh toán phát sinh hàng ngày trong nền kinh tế, đồng thời thông qua các hoạt động huy động vốn và cho vay. Các NHTM có khả năng tạo tiền từ các nghiệp vụ kinh doanh của mình thông qua các công cụ lãi suất và tỉ giá.
Vì vậy NHTM là một mắc xích góp phần ổn định chính sách tiền tệ quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia chuyển đổi nền kinh tế để tham gia hội nhập khu vực và quốc tế như Việt Nam. - Sản phẩm mà ngân hàng kinh doanh và làm dịch vụ là hàng hóa tài chính. Nói cách khác, đó là tiền và các chứng từ có giá như cổ phiếu, thương phiếu, hối phiếu…Đây là những sản phẩm cao cấp của nền kinh tế thị trường vì vậy vận hành theo một qui trình và phải được điều hành bởi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nhất định dựa trên những cơ sở pháp lý do luật pháp qui định. - Trong quá trình hoạt động, NHTM tạo ra sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cung ứng cho người tiêu dung khi có nhu cầu.
Do vậy, hoạt động của ngân hàng dựa vào -7- thương hiệu và uy tín tạo ra đối với khách hàng. Vì thế, hoạt động của NHTM là một chuỗi không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng và quảng bá tiếp thị hình ảnh của mình tới ngân hàng. - Hoạt động NHTM là cầu nối giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, những cá nhân có vốn nhàn rỗi và các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu vay vốn. Các NHTM góp phần không nhỏ vào việc giải quyết nạn thất nghiệp, nâng cao thu nhập và mức sống của dân cư cũng như góp phần bảo đảm vốn đối với các ngành kinh tế nhằm phát triển ngành nghề, chuyển dịch vcơ cấu kinh tế một quốc gia.
Ngoài ra, các NHTMLD còn có những đặc điểm riêng: - Trong quá trình hoạt động, ngân hàng liên doanh vừa tuân thủ qui chế, luật pháp của Việt Nam đồng thời tuân thủ luật pháp của nước đối tác nước ngoài trong liên doanh. NHTMLD bị điều chỉnh bởi hai hệ thống luật pháp. - Hoạt động của NHTMLD không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thỗ mà còn mở rộng ra bên ngoài thông qua quan hệ vay vốn từ đối tác nước ngoài, thông qua mối quan hệ của đối tác nước ngoài trong liên doanh. - Phân khúc thị trường của các NHTMLD là các doanh nghiệp có cùng quốc tịch với ngân hàng mẹ.
- Hội đồng quản trị, bộ máy quản lý của NHTMLD do các bên trong liên doanh đề cử nên có nhiều người nước ngoài trong ban lãnh đạo; do đó ngôn ngữ trong giao tiếp cũng như lưu trữ chứng từ là ngôn ngữ tiếng Anh. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại: 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh: -8- Trong nhiều thập niên qua, có rất nhiều nghiên cứu về cạnh tranh được thực hiện và cho ra đời rất nhiều lý thuyết về cạnh tranh. Theo Micheal Porter, “để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt đuợc mức giá cao hơn trung bình.
Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thề cung cấp hàng hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”. Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu thì đưa ra “năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”. Về phía cạnh tranh doanh nghiệp, có ý kiến cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có đuợc.
Từ những luận điểm trên cho thấy, chưa có một khái niệm chung nhất về năng lực cạnh tranh. Tùy vào từng trường hợp nghiên cứu mà khái niệm năng lực cạnh tranh được định nghĩa. Trong công trình nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập”, tác giả Nguyễn Thị Quy đã đưa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh của NHTM như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Các chỉ tiêu đánh giá năng lưc cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1.
Năng lực tài chính Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn: - Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tiềm lực về vốn chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính của ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó. - Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khả năng huy động vốn còn thể hiện hiệu quả, năng lực và uy tín của ngân hàng trên thị trường.
Chất lƣợng tài sản có: Chất lượng tài sản có phản ánh tình trạng sức khỏe của ngân hàng. Chất lượng tài sản có là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự đổ vỡ ngân hàng. Chất lượng tài sản có được thể hiện thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hóa của danh mục tín dụng…Chất lượng tài sản có ảnh hưởng đến trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng. Khả năng sinh lợi: Khả năng sinh lợi là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của ngân hàng.