Chương 1: Tông quan về cho vay tiêu dùng và khả năng cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng và khả năng cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Vietcombank Thanh Hóa. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Vietcombank Thanh Hóa. 1 CHƯƠNG TONG QUAN VE CHO VAY TIEU DUNG VÀ KHẢ NĂNG CANH TRANH TRONG HOAT DONG CHO VAY TIEU DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 NHUNG VANDE CHUNG VE CANH TRANH VA KHA NANG CANH TRANH TRONG LINH VUC NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Canh tranh trong nén kinh té 1.1 Kha nang cạnh tranh a) Khai niém vé canh tranh Cạnh tranh là khái niệm song hành với khái niệm kinh tế thị trường.
Cạnh tranh được xem là động lực thúc đây sự phát triển và quy luật hoạt động của kinh tế thị trường. Cạnh tranh hiểu theo nghĩa chung nhất là sự ganh đua hơn thua. Vậy trong kinh doanh cần hiểu cạnh tranh như thé nào? Ở phạm vi quốc gia, theo Ủy ban cạnh tranh Công nghiệp của Mỹ thì: cạnh tranh đối với một quốc ø1a là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó. -Ở cấp độ doanh nghiệp, theo Từ Điển Kinh Doanh (xuất bản năm 1992, tại Anh) thì cạnh tranh trong trong cơ chế thị trường là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm dành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình.
Hai nhà kinh tế học người Mỹ P.D Nordhaus trong nghiên cứu về kinh tế học cho rằng: cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp để dành khách hàng hoặc thị trường. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hang hóa, giữ các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nên kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhât. Theo các tác giả trong cuôn "các vân đê pháp lý vê thê châp và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh" thì cho răng: cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhăm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Ở Việt Nam, khi đề cập đến "cạnh tranh" thường là về van dé giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế.
Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đây nên kinh tế phát triển. Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố thúc day quá trình tích lũy va tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Mặc dù còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một nhóm) người nhăm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại.
- Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay một thị trường, một khách hàng.) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm. thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh. Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng các công cụ khác nhau như: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vu, cạnh tranh băng giá bán sản phẩm dịch vụ.
cạnh tranh băng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tô chức các kênh tiêu thụ), cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán. b)Khái niệm về khả năng cạnh tranh "Cạnh tranh" gắn liền với hành vi của chủ thể như hành vi của doanh nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế. Trong quá trình cạnh tranh với nhau, dé giành lợi thế về phía mình, các chủ thé áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, được gọi là khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh của chủ thể đó.
Khi muốn chỉ một sức mạnh, một khả năng duy trì được một hàng hóa nào đó trên thị trường thì người ta dùng thuật ngữ "sức cạnh tranh hàng hóa" hoặc "khả năng cạnh tranh của hàng hóa đó". Đó cũng chỉ là một mức độ hấp dẫn của hàng hóa đó với khách hàng. Hiện nay các thuật ngữ "kha năng cạnh tranh”, "sức cạnh tranh", "nang lực cạnh tranh" được sử dụng nhiều ở Việt Nam, trong khi thông dụng trong tiếng anh đều được sử dụng là 'competitiveness", cho nên chúng cùng chung một nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau. Một định nghĩa chính xác cho khái niệm này đến nay là van đề gây nhiều tranh luận.
Porter, hiện chưa có một định nghĩa nao về khả năng cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến. Dưới đây là một số định nghĩa về khả năng cạnh tranh: - Đối với các lãnh đạo doanh nghiêp, khả năng cạnh tranh có nghĩa là sức cạnh tranh trên thị trường thế giới nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu mà có được. - Trong thuật ngữ chính sách thương mại: "sức cạnh tranh là khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế" - Đối với một số nhà kinh tế học, khả năng cạnh tranh là giá thành tương đối thấp của một đơn vi sức lao động dựa vào điều chỉnh hối suất. Quan niệm của PGS.TS Nguyễn Thị Quy: "Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sẽ hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bat lợi của môi trường kinh doanh".
Đứng trên góc độ tổng thể để đánh giá khả năng cạnh tranh của một quốc gia, ngành, doanh nghiệp: là năng lực của một nên kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút dau tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) cho rang: "khả năng cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt, duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thê chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác" (theo WEF - 1997). Đồng thời WEF đã đưa ra một khuôn khổ các yếu tố xác định khả năng cạnh tranh tổng thé của một quốc gia và phân thành 8 nhóm chính, bao gồm 200 chỉ số khác nhau. Đứng trên góc độ doanh nghiệp, M.
Porter cho rang chỉ nghiên cứu sức cạnh tranh của sản phầm. doanh nghiệp, của ngành thi mới có ý nghĩa thực tế và dé đi đến thống nhất hơn. Bởi khả năng cạnh tranh của ngành có quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh của một quốc gia. Theo định nghĩa của diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): "khả năng cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dung các yếu tố sản xuất các hiệu quả làm cho các doanh nghiệp các ngành, các địa phương, các quốc gia và các khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế".
Theo quan điểm của kinh tế chính trị học: năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể duy trì một vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất băng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ các mục tiêu của doanh nghiệp. Theo Trần Sửu trong cuốn "năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa" thì: khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là khả năng mà doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phân lớn tạo ra thu nhập cao, phát triển bền vững.2 Tính tat yếu của cạnh tranh a) Vai trò và ý nghĩa của cạnh tranh Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, một xu hướng tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi. Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có mức chi phí cao, sản phẩm có chất lượng kém.
Một mặt nó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng phan đấu dé giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, dich vu, đồng thời tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ để tồn tại và phát triển trên thị trường. Do vậy cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp phải tăng cường khả năng cạnh tranh của mình, đồng thời thay đổi mối tương quan giữa thế và lực dé tạo ra các yếu thé trong cạnh tranh. Do vậy, cạnh tranh trong nền kinh tế có vai trò tích cực: Thứ nhất, đối với các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo áp lực buộc họ phải thường xuyên tìm tòi sáng tạo, cải tiến phương pháp sản xuất và tổ chức quản lý kinh doanh, đổi mới công nghệ. áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển sản phẩm mới, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.