CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái quát về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là quy luật vận hành của nền KTTT. Nó xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà trong đó hoạt động SXKD là một lĩnh vực quan trọng.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm cạnh tranh và sự cạnh tranh cũng chia ra các cấp độ khác nhau, có thể ở cấp quốc gia, ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm. Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch (Các Mác, 2004), nghĩa là sự tồn tại của các đối thủ cạnh tranh là mối đe dọa tới lợi nhuận của các nhà kinh doanh. Từ đó dẫn tới việc hình thành các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh với mục đích triệt hạ các đối thủ cạnh tranh giành lấy thị trường, khách hàng và lợi nhuận. Khái niệm cạnh tranh này được nhìn dưới góc độ khá tiêu cực, cạnh tranh không bình đẳng, nếu một bên có lợi thì bên kia chịu thiệt.
Tuy nhiên nó cũng nói lên vai trò của cạnh tranh là đổi mới sản xuất, phát triển kinh tế thông qua nỗ lực cạnh tranh của các nhà tư bản. Theo từ điển bách khoa của Việt Nam (Từ Điển Bách Khoa, 1995) thì cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền KTTT, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có (Michael E.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến giá cả có thể giảm đi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Như vậy, cạnh tranh có tác động thúc đẩy sản xuất, là động lực để tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện tốt lợi ích của mình và lợi ích của khách hàng, lợi ích của cộng đồng, lợi ích của xã hội, chính vì vậy, nền kinh tế không ngừng được đổi mới, phát triển, nâng cao mức sống cho người dân. Mỗi tác giả có một khái niệm khác nhau về cạnh tranh nhưng các khái niệm này đều tựu trung một ý tưởng: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh cùng một loại sản phẩm hàng hóa và cùng tiêu thụ trên một thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
Lợi thế cạnh tranh Theo tác giả Nguyễn Hữu Lam thì lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của công ty, trong đó những năng lực phân biệt này được khách hàng xem trọng, đánh giá cao vì nó tạo ra giá trị cao cho khách hàng (Nguyễn Hữu Lam và cộng sự, 2011). Vậy lợi thế cạnh tranh là những năng lực phân biệt của doanh nghiệp được thị trường đánh giá cao, qua đó doanh nghiệp tạo ra được sự vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh khác trong ngành, trong đó năng lực phân biệt là điểm mạnh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác. Lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng, lợi thế đó có thể ở dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua là tương đương) hoặc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn (Michael E. Để tồn tại trong môi trường cạnh tranh, công ty phải tạo ra được lợi thế cạnh tranh.
Porter, tựu trung lại có 2 loại lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu: chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Chi phí thấp: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh, giúp chiếm lĩnh thị trường rộng, mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả cao hơn và có khả năng chống lại việc giảm giá bán sản phẩm tốt hơn. - Khác biệt hóa: sản phẩm có sự khác biệt, làm tăng giá trị cho người tiêu dùng, hoặc làm giảm chi phí sử dụng sản phẩm, hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này giúp doanh nghiệp có khả năng buộc thị trường chấp nhận mức giá cao hơn mức giá của đối thủ.
Khi doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà đối thủ không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Trong luận văn này sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cho đến nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh (Michael E. Porter cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp (Vũ Trọng Lâm, 2006).
Quan niệm này khá phổ biến tại các doanh nghiệp hiện nay, năng lực cạnh tranh theo đó được diễn giải là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp so với đối thủ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2002) định nghĩa năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động, là sức sản xuất cao trên cơ sở sử dụng hiệu quả yếu tố sản xuất để phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững (Nguyễn Hữu Thắng, 2008). Tóm lại từ những khái niệm trên thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tận dụng những nội lực bên trong cũng như khai thác những thuận lợi của môi trường bên ngoài để tạo ra lợi thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mang tính tổng hợp của nhiều yếu tố cấu thành khác nhau và có thể xác định cho nhóm doanh nghiệp hay cho từng doanh nghiệp, tuy nhiên để phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì cẩn phải xem xét các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh Cạnh tranh tồn tại như một quy luật khách quan trong nền KTTT và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay. Thị trường ngày càng xuất hiện nhiều các đối thủ cạnh tranh với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý và có sức mạnh thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường.
Các doanh nghiệp cần phải có các chiến lược và giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm vượt trội so với các đối thủ. Điều này sẽ giúp quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường. Doanh nghiệp phải tăng cường năng lực cạnh tranh của chính mình bằng việc thúc đẩy nghiên cứu và áp dụng công nghệ, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, tăng hiệu quả hoạt động tài chính, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và sự phát triển của cả quốc gia. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Có nhiều tác giả đưa ra lý thuyết về các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Mỗi tác giả có những quan điểm khác nhau tuy nhiên cũng có nhiều điểm chung. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ bao hàm các nhân tố chủ quan, phản ánh nội lực của doanh nghiệp, không bao hàm các nhân tố khách quan, các yếu tố môi trường kinh doanh (Phan Minh Hoạt, 2004).
Đối với đề tài này, tác giả chỉ tập trung phân tích các yếu tố bên trong là yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, còn các yếu tố bên ngoài được xem như tạo ra thách thức và cơ hội như nhau cho mọi doanh nghiệp trong ngành. Do đó, tác giả chỉ tập trung đến các yếu tố bên trong cấu thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó phân tích đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Để xác định các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực DVCI chuyên ngành chiếu sáng công cộng tại Việt Nam, trước hết luận văn căn cứ vào lý thuyết các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực DVCI chuyên ngành chiếu sáng công cộng của Công ty TNHH MTV Chiếu sáng Công cộng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.