Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA 1.1 Khái quát chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và toàn cầu hóa: 1.1 Khái niệm về cạnh tranh: Thuật ngữ về cạnh tranh được đề cập rất nhiều trong hầu hết các lĩnh vực, các khái niệm này rất rộng từ đời sống hàng ngày đến các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, văn hóa,…Tùy vào từng hoàn cảnh, lĩnh vực khác nhau mà các khái niệm cạnh tranh được hiểu theo các góc nhìn, mức độ biểu hiện khác nhau. Trước kia, các doanh nghiệp của chúng ta thường chủ yếu sử dụng thuật ngữ “thi đua” thay vì sử dụng từ “cạnh tranh”. Vậy “ cạnh tranh” được hiểu như thế nào. Đầu tiên theo cách hiểu phổ thông, đơn giản được biết đến trong Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) là “ một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn ưu thế tuyệt đối về phía mình.” Cũng trong từ điển tiếng Việt có viết “ cạnh tranh” là “ cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau.” Đây mới chỉ là những khái niệm mang tính khái quát về cạnh tranh ở góc độ từ ngữ.
Trong lĩnh vực về kinh tế khoa học, nhiều nhà khoa học cũng đưa ra nhìn nhận ở các góc độ khác nhau dựa trên các hướng tiếp cận nghiên cứu ở mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn của quá trình kinh doanh. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: “ cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.” Trong khi đó, theo K. Marx: “cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuật lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.” Với góc độ thị trường, cạnh tranh được hiểu là một quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế (tổ chức hoặc cá nhân) ganh đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các điều kiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Ngoài ra, trong từ điểm kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992 thì “ cạnh tranh” được hiểu là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình.” Theo từ điển tiếng Việt Bách Việt Nam thì cạnh tranh 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (trong kinh doanh) là: Hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Từ các khái niệm trên cạnh tranh dưới góc độ kinh doanh trên, có thể thấy được các định nghĩa về cạnh tranh tuy là có những nhìn nhận, giải thích khác nhau nhưng nhìn chung, ta hình dung là được cạnh tranh trong kinh tế khoa học được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên thị trường (nhà sản xuất, nhà kinh tế, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân,.) với mục tiêu lôi kéo ngày càng nhiều khách về phía mình. Cạnh tranh có thể xuất hiện giữa những người bán hàng với nhau, song cũng có thể xuất hiện ở những người mua hàng, tuy nhiên cạnh tranh xảy ra phổ biến hơn ở những người bán hàng.2 Nguồn gốc và bản chất của cạnh tranh: Dưới những điều kiện pháp lý cho trước cụ thể, cạnh tranh đã trở thành một quy luật của nền kinh tế, nó trở thành động lực phát triển kinh tế. Bất kể hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nào trên thị trường cũng bị chịu các tác động bởi các quy luật cạnh tranh thị trường.
Khi đó, cạnh tranh được chú ý đến và dần xuất hiện nếu luật pháp có những hành quy định bảo vệ cũng như thừa nhận về các tính sở hữu, về loại hình nguồn gốc cơ bản của cạnh tranh. Có thể thấy, cạnh tranh như một nhân tố quan trọng giúp xã hội tiến bộ, phát triển hơn, các quan hệ xã hội được lành mạnh hóa bởi sự bảo hộ của Nhà nước trước những những thành phần kinh tế. Nói một cách cụ thể dưới cái nhìn của chủ thể kinh doanh, cạnh tranh đem lại lợi ích trong việc giải quyết các mâu thuẫn trong việc phân tích các lợi ích tiềm năng của các nhà kinh doanh trên cương vị là người quyết định của người tiêu dùng. Nói rộng hơn thì cạnh tranh giúp tối ưu hóa việc phân công nguồn lực cụ thể, là nội tại thúc đẩy giúp phát triển hơn nền kinh tế.
Không chỉ vậy, cạnh tranh cũng hỗ trợ việc hệ thống lại các hình thái cạnh tranh do quá trình tích tụ diễn ra không đều ở nhiều các lĩnh vực khác nhau. Trong quy luật cung cầu diễn ra trên thị trường, cạnh tranh xuất hiện mang lại nhiều giá trị lớn để đẩy mạnh việc tích tụ, năng suất sản phẩm được nâng cao đáp ứng đầy đủ các điều kiện thiếu hụt trong sản xuất thường xảy ra. Dưới các áp lực của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, quy mô sản xuất, cũng như về sản lượng trên thị trường, các nhà sản xuất, chủ thể kinh doanh buộc phải hành động, có các tác động để phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng. Hai chủ thể về khách hàng và nhà sản xuất kinh doanh có quan hệ qua lại trong việc xác định các yêu cầu cụ thể về sản xuất, đối tượng sử dụng và giá trị sản phẩm.
Có thể thấy vấn đề cạnh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tranh đúng nghĩa là việc đua tranh bởi các chủ thể kinh doanh có sự mâu thuẫn nhau trong lợi ích cơ bản của mình. Trong lĩnh vực kinh tế, bản chất của cạnh tranh được thể hiện như sau: - Cạnh tranh thể hiện sự ganh đua lẫn nhau của các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật khách hàng trên thị trường. Dưới góc độ kinh tế, cơ chế trao đổi trên thị trường được xác định giữa người mua và người bán của cùng một loại hàng hóa hay dịch vụ. Cạnh tranh sẽ chỉ xảy ra trên thị trường khi không có sự độc quyển, nghĩa ra có từ hai chủ thể kinh doanh trở lên.
Quy luật về cung cầu trên thị trường cũng phần nào thúc đẩy quá trình cạnh tranh diễn ra, khi khách hàng và chủ thể kinh doanh có các nhu cầu lợi ích không giống nhau. Chủ thể kinh doanh luôn hướng đến mục đich bán được sản phẩm một cách nhanh chóng, với sô lượng nhiều và thu về được nhiều lợi nhuận, trong khi khách hàng thì ngược lại. Họ mong muốn có được những sản phẩm có giá thành rẻ, chất lượng tốt và phù hợp với nhu cầu. Do vậy để ganh đua thu hút được khách hàng, các chủ thể kinh doanh cần hành động để làm nổi bật hơn so với các đối thủ, sử dụng các phương thức cạnh tranh tối ưu.
Những việc làm này làm cho thị trường trở nên sôi động, có sức cạnh tranh hơn, nó buộc những chủ thể kinh doanh yếu kém hơn phải chịu thua kém, mất khách hàng thậm trí là rời khỏi thị trường. - Quá trình cạnh tranh giữa các đổi thủ diễn ra trên thị trường. Để có các lợi thế trong việc mở rộng thị trường thì các chủ thể kinh doanh luôn phải cạnh tranh ganh đua với nhau. Song các chủ thể thực sự trở thành các đối thủ của nhau trên thị trường khi họ đều có chung lợi ích đều cùng chung thị trường sản phẩm kinh doanh, cùng chung các đối tượng khách hàng.
Do đó, lý thuyết về cạnh tranh được xác định khi các chủ thể kinh doanh là đối thủ của nahu, và sự ganh đua giữa các đối thủ đó được thể hiện trên thị trường. Đối với một vài hành vi về hạn chế cạnh tranh, để xác định có hành vi này xảy ra hay không thì phải xác định chủ thể thực hiện hành vi thực hiện ở các thị trường có liên quan nào hay không và xác định được đối thủ cạnh tranh. - Cạnh tranh chỉ diễn ra trong điều kiện cơ chế thị trường: Các chủ thể là đối thủ khi cạnh tranh với nhau đều có mục đích mang khách hàng về phía mình, ganh đua giành lại thị trường, mở rộng quy mô càng nhiều càng tốt, do vậy mà điều kiện để thực hiện được các hành động cạnh tranh là nó phải xảy ra trong cơ chế thị trường. Việc tự do kinh doanh buôn bán trong cơ chế thị trường của các cá nhân, tổ chức giúp họ dễ dàng có sự cạnh tranh hơn so với việc bị chịu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự nắm quyền kiếm soát kinh doanh bởi chính quyền trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hay trong thời kỳ phong kiến.2 Năng lực cạnh tranh: 1.1 Khái niệm: Hiện nay, cũng giống như cạnh tranh, năng lực cạnh tranh không có khái niệm chuẩn mực thống nhất và được sử dụng phổ biến (M.
Porter, 1996), do đây là một khái niệm rộng và có thể tiếp cận nhiều góc độ khác nhau. Năng lực cạnh tranh được thể hiện cụ thể qua một vài định nghĩa như sau: Theo Laura D’Andrea Tyson (1992), năng lực cạnh tranh là “khả năng sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu cạnh tranh quốc tế, từ đó mức sống của mọi công dân được nâng cao và bền vững.” Theo báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh Armenia định nghĩa năng lực cạnh tranh là “sự tăng lên được duy trì liên tục trong hiệu quả sản xuất, từ đó nâng cao tiền lương và mức sống.” OECD cho rằng năng lực cạnh tranh là “khả năng của các doanh nghiệp, ngành, hay quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” Trên góc độ tổng quát lấy con người làm trung tâm, khái niệm năng lực cạnh tranh được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) quan niệm: “Đối với doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh có nghĩa là tạo ra những lựa chọn tăng trưởng mới, mang lại giá trị cho cổ đông đối với xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh là tạo ra việc là mới và điều kiện sống tốt hơn”.