Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản về năng lực cán bộ khuyến nông 1. Năng lực và các tiêu chí đánh giá năng lực của cán bộ 1. Năng lực Năng lực là vấn đề được bàn đến trong nhiều nghiên cứu khoa học nhưng khái niệm về năng lực vẫn chưa thống nhất.
Triết học Mác xít coi năng lực con người là khả năng thể hiện mình trong một bối cảnh nhất định, là thuộc tính bản chất con người.Mác khẳng định: “Chúng tôi hiểu sức lao động, hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” (C. Tâm lý học Mác xít cho rằng: “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý của cá nhân đáp ứng với yêu cầu hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động nhanh chóng thành thạo và đạt kết quả cao” (Tổng cục Chính trị, Quân đội nhân dân Việt Nam, 1998) [19]. Theo từ điển tâm lý học, năng lực là tập hợp các tính chất tâm lý cá nhân, đóng vai trò điều khiển bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một hoạt động nhất định. Năng lực làm việc là khả năng tiềm tàng của cá nhân nhằm hoàn thành một hoạt động với hiệu suất được đề ra trong một thời gian nhất định.
Năng lực làm việc của con người không phải bất biến mà thay đổi trong quá trình hoạt động. Sự biến đổi của năng lực làm việc phụ thuộc vào loại hình công việc, đặc điểm tâm sinh lý cá nhân, tình trạng sức khỏe và trình độ chuyên môn (Vũ Dũng, 2000) [5]. Theo quan điểm này, năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng và sẽ trở thành khả năng khi gắn với hoạt động thực tế. Vậy, năng lực tồn tại dưới hai dạng là tiềm năng và khả năng.
Tiềm năng là dạng năng lực ẩn giấu, được hình thành từ năng khiếu bẩm sinh và quá trình đào tạo, tự đào tạo của cá nhân nhưng chưa được bộc lộ trong hiện thực. 4 Khả năng là dạng năng lực xuất hiện và bộc lộ trong điều kiện môi trường nhất định, gắn với hoạt động cụ thể và được phản ánh thông qua hoạt động có kết quả. Tiềm năng là nền tảng để tạo ra khả năng. Boyatzis (1982) cho rằng: Năng lực giải quyết công việc là đặc tính cơ bản của con người trong việc thực hiện công việc một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên, kết quả thực hiện công việc còn chịu ảnh hưởng của mối liên hệ giữa năng lực của con người với môi trường hoạt động bên trong và bên ngoài. Như vậy, năng lực là những đặc tính bên trong giúp con người thực hiện hiệu quả công việc [28]. Đồng quan điểm này, Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Quang Uẩn (1998) cũng cho rằng: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Phạm Minh Hạc (1988) phát biểu: “Khi nói đến một tổ hợp những thuộc tính tâm lý phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả là nói đến năng lực của con người trong lĩnh vực hoạt động ấy.
Vì thế, thông qua hoạt động, người ta có thể tạo ra năng lực” [6]. Ông còn chỉ ra rằng: để đánh giá mức độ của năng lực, cần phải đặt thành tích đạt được trong mối liên hệ với những điều kiện đạt những thành tích ấy. Như vậy, theo cách tiếp cận này, khi nói đến năng lực là phải đặt trong một hoạt động cụ thể. Thông qua hoạt động, người ta chủ động tạo ra năng lực.
Mỗi hoàn cảnh, môi trường làm việc đặt ra yêu cầu về năng lực khác nhau. Yêu cầu về năng lực cũng thay đổi khi tình hình công việc và nhiệm vụ thay đổi. Theo Mạc Văn Trang (2000), năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi ba thành tố: Thái độ đối với nghề, kiến thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề, từ đó hình thành mô hình tam giác (hình tháp) AKS (AKS là mô hình theo trường phái của Anh) (Attitude - Knowledge - Skill) (Thái độ - Kiến thức - Kỹ năng). Ba thành tố này là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực nghề nghiệp của công chức.
Năng lực góp phần làm cho quá trình lĩnh hội kiến 5 thức, kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động nhất định được nhanh chóng, thuận lợi và dễ dàng hơn. Cấu trúc các thành tố của năng lực linh hoạt, dễ chuyển hoá khi môi trường và yêu cầu hoạt động thay đổi. Năng lực làm việc được cấu thành bởi các yếu tố: (1) Kiến thức, bao gồm hiểu biết chung và hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể. Kiến thức hình thành qua đào tạo hoặc tự đào tạo thông qua học tập hoặc trải nghiệm thực tế.
(2) Kỹ năng là sự thành thạo trong việc áp dụng kỹ thuật, phương pháp, công cụ để giải quyết công việc. Kỹ năng hình thành và phát triển qua thực hành thực tế. (3) Thái độ - hành vi của bản thân người làm việc là những phản ứng, cách cư xử của con người trong hoàn cảnh cụ thể. Chúng được hình thành và bộc lộ trong quá trình làm việc, giao tiếp.
Muốn có thái độ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi, mỗi người phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công việc được giao đảm nhiệm. Một cá nhân có đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoạt động trong một lĩnh vực nào đó nghĩa là có tiềm năng trong lĩnh vực nghề nghiệp đó. Để những tiềm năng này bộc lộ thành khả năng, cần có hoạt động phù hợp trong điều kiện môi trường cụ thể. [20] Giáo sư toán học Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự (2004) lại cho rằng: Năng lực còn gọi là khả năng thực hiện, là sự kết hợp của nhiều đặc điểm tâm lý của một người, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi giúp cho người đó tiếp thu dễ dàng và hoạt động hiệu quả trong một lĩnh vực cụ thể.
Các tác giả phân chia năng lực thành 4 cấp theo mức độ thành công của hoạt động: (1) Không có năng lực, nghĩa là không có khả năng hoặc bất tài trong một hoạt động nào đó; 6 (2) Có năng lực là có khả năng tiếp thu kiến thức và hoạt động đạt hiệu quả trong một lĩnh vực cụ thể; (3) Có tài năng là có năng lực ở mức độ cao, đạt được những kết quả xuất sắc một cách ổn định; (4) Thiên tài là có năng lực phát triển ở mức độ cao nhất, mang lại những kết quả sáng tạo trong một lĩnh vực hoạt động. Cũng theo quan điểm này, năng khiếu có tính chất bẩm sinh, làm cơ sở cho năng lực. Nhưng có năng khiếu mà không có điều kiện chủ quan và khách quan thì năng khiếu khó phát triển thành năng lực. Nghĩa là có năng khiếu chưa chắc là có năng lực cao.
Tài năng được hình thành một phần do năng khiếu, phần còn lại là do học tập và rèn luyện, chịu ảnh hưởng của yếu tố chủ quan từ nhân cách và yếu tố khách quan từ môi trường sống, môi trường đào tạo. Cũng với quan điểm phân chia năng lực thành các cấp độ, Lê Thị Bừng (2004) cho rằng: Năng lực được hiểu là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Năng lực được phân chia thành 3 cấp độ là năng lực, tài năng và thiên tài. Năng lực là khái niệm chung nhất, là cái mốc để phân biệt giữa người này và người khác, biểu thị ở sự hoàn thành tốt trong lĩnh vực hoạt động nào đó.
Tài năng là năng lực ở mức độ cao, biểu thị sự hoàn thành một cách sáng tạo ở những hoạt động đó. Thiên tài là năng lực ở mức độ hoàn chỉnh trong một lĩnh vực nào đó. Bất cứ ai nếu có ý thức rèn luyện và có ý chí, nghị lực đều có thể có năng lực trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể. Còn thiên tài là ở mức độ cao nhất, không phải bất cứ người bình thường nào cũng có.
Thực tế khó có thể xác định chính xác năng lực cá nhân, đặc biệt là năng lực ở dạng tiềm năng. Nếu tiềm năng không có cơ hội bộc lộ thành khả năng hoặc khả năng không phù hợp với môi trường hay điều kiện hoạt động cụ thể thì rất khó để nhận định xác thực về năng lực cá nhân. 7 Như vậy, có khá nhiều khái niệm về năng lực dựa trên những góc độ nghiên cứu khác nhau của nhiều tác giả. Tuy được diễn đạt dưới các hình thức khác nhau nhưng những khái niệm này không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau.
Tổng hợp lại, chúng có những điểm chung là: Thứ nhất, năng lực được hiểu là tiềm năng, khả năng thực hiện một dạng hoạt động nào đó. Do vậy, khi nghiên cứu năng lực, cần xem xét trong lĩnh vực hoạt động cụ thể, trong mối liên hệ với môi trường hoạt động. Thứ hai, các bộ phận cấu thành năng lực bao gồm những thuộc tính tâm lý phù hợp với những yêu cầu của một dạng hoạt động nào đó. Các tác giả cũng đã chỉ ra một số yếu tố cấu thành năng lực cụ thể như: Kiến thức, kỹ năng, thái độ.
Thứ ba, năng lực được phát huy tối đa còn phụ thuộc vào môi trường, điều kiện hoạt động cụ thể. Do vậy, khi nghiên cứu nâng cao năng lực, cần quan tâm chú trọng đến việc tác động vào các yếu tố môi trường, điều kiện hoạt động để phát huy năng lực. Thứ tư, năng lực có thể thay đổi thông qua hoạt động. Con người có thể chủ động tạo ra năng lực.
Đây là điểm đặc biệt quan trọng, khẳng định con người có thể định hướng giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực. Đây cũng chính là mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận văn này. Khái niệm Nội dung công tác khuyến nông rất đa dạng bởi vì KN dựa trên yêu cầu của nông dân về những thông tin và kiến thức họ cần. Đất nước càng phát triển, trình độ văn hóa, quản lý, kiến thức khoa học của nông dân càng cao thì nội dung hoạt động KN càng phong phú.
Tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi nước mà định nghĩa về khuyến nông có những điểm khác nhau.