CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 1. Khái niệm nhập khẩu Nhập khẩu là quá trình mua bán quốc tế thông qua các hợp đồng mua bán quốc tế còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương: là sự thoả thuận giữa những đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu (Bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là Bên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; Bên mua có nhiệm vụ nhận hàng và trả tiền hàng. Quy trình nhập khẩu Kinh doanh quốc tế nói chung và kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng là một quá trình phức tạp, bao gồm một tổng thể các hoạt động có tính logic và quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau và là tiền đề của nhau. Để đạt được hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cao nhất cần phải nghiên cứu đầy đủ đặc điểm, vai trò của từng khâu nghiệp vụ và mối quan hệ giữa chúng nhằm có một quy trình nhập khẩu hoàn thiện, mang tínhhiệu quả cao.
Hoạt động nhập khẩu thường được tiến hành theo các bước sau: Chuẩn bị tiến hành giao dịch 2. Giao dịch, đàm phán, ký kết HĐNK 3. Tổ chức thực hiện hợp đồng XNK 1. Chuẩn bị tiến hành giao dịch 1.
Nghiên cứu tiếp cận thị trường và lựa chọn đối tác giao dịch Mục tiêu cơ bản của quá trình giao dịch đàm phán mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần đạt tới là tiến hành ký kết được các hợp đồng Thương mại Quốc tế và phải là những hợp đồng có lợi nhất, có thể thực hiện được, ít rủi ro và mang lại hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh. Muốn đạt được kết quả đó thì quá trình nghiên cứu thị trường đóng vai trò quan trọng. Nó bao gồm một loạt các thủ tục và kỹ thuật đưa ra để giúp các doanh nghiệp có đầy đủ thông tin cần thiết từ đó đưa ra những 10 quyết định chính xác kịp thời và chính xác về Marketing với mục đích tìm kiếm thị trường cho các loại hàng hoá và dịch vụ của công ty trong khoảng thời gian và nguồn lực hạn chế. Đồng thời công tác nghiên cứu thị trường không những giúp cho doanh nghiệp có một hệ thống thông tin mà còn làm cơ sở cho quá trình giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng và thực hiện các hợp đồng sau này có hiệu quả.
Điều này giúp cho doanh nghiệp có những phản ứng linh hoạt và có các quyết định đúng đắn trong quá trình giao dịch, đàm phán. Khi nghiên cứu thị trường cần quan tâm đến một số vấn đề sau: + Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới: Là một vấn đề hết sức quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nào, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mới tham gia kinh doanh chưa đủ mạng lưới nghiên cứu cung cấp thông tin cũng như thiếu cán bộ có chuyên môn về lĩnh vực này. Giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới phản ánh quan hệ cung cầu của hàng hoá đó trên thị trường thế giới và nó luôn biến động. Vấn đề xác định đúng đắn giá cả hàng hoá trong hoạt động kinh doanh Thương mại quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu.
+ Dự đoán xu hướng biến động của giá: Xu hướng biến động của giá hàng hoá trên thị trường thế giới rất phức tạp, lúc tăng, lúc giảm, cá biệt có thị trường ổn định, nhưng nói chung xu hướng đó có tính chất tạm thời. Để có thể dự đoán được xu hướng biến động của giá từng mặt hàng trên thị trường phải dựa vào kết quả nghiên cứu và dự đoán tình hình thị trường với từng loại mặt hàng, đồng thời đánh giá chính xác các nhân tố tác động đến xu hướng biến đổi giá. Qua công tác nghiên cứu thị trường doanh nghiệp kinh doanh đã xác định nhu cầu nhập khẩu. Công việc tiếp theo là cần phải lựa chọn được: đúng số lượng( Right Quantity), đúng chất lượng ( Right Quality), đúng giá ( Right Price), đúng thời điểm và đúng nguồn cung cấp ( Right Source).
Trong đó hoạt động được coi là nền tảng thực hiện tất cả các mục tiêu khác để đạt tới quyết định mua hàng tối ưu là việc lựa chọn đúng nguồn cung cấp. Dựa vào kết quả nghiên cứu thị trường doanh nghiệp phải trả lời 11 câu hỏi: Ai có thể cung cấp được mặt hàng đó một cách tốt nhất? Cơ cấu hàng cung cấp như thế nào? Giá cả bao nhiêu? Số lượng bao nhiêu? Cung cấp ở đâu? Cung cấp bằng phương tiện gì và vào thời điểm nào? Và các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực này? Việc lựa chọn nguồn cung cấp phải dựa trên cơ sơ nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh của công ty đó hay nước đó? Khả năng và chất lượng hàng? Chính sách thương mại và tập quán của nước đó?. Song việc nghiên cứu, lựa chọn đối tác giao dịch tuỳ thuộc vào một kinh nghiệm của người nghiên cứu. Lập phương án kinh doanh.
Phương án kinh doanh thực chất là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu cụ thể của doanh nghiệp dựa trên cơ sở những kết quả thu lượm được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường. Quá trình xây dựng phương án kinh doanh bao gồm các bước: + Phân tích để lựa chọn thị trường và mặt hàng kinh doanh: Trong bước nay người lập phương án phải phân tích, đánh giá tổng quát tình hình hiện tại của môi trường và thị trường. Qua đó nhận dạng các cơ hội và đe doạ cũng như phân tích đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh để từ đó lựa chọn được thị trường và mặt hàng kinh doanh cho phù hợp với khả năng của công ty. Trong bước này một vấn đề khá quan trọng là phải xác định được số lượng hàng nhập khẩu để đạt được mục đích thu được lợi nhuận tối đa.
+ Xác định mục tiêu: Những mục tiêu đề ra trong một phương án kinh doanh bao giờ cũng là mục tiêu cụ thể như: Doanh số, lợi nhuận, sẽ bán được bao nhiêu hàng? với giá cả bao nhiêu? Sẽ thâm nhập vào những thị trường nào? tỷ suất lãi trên vốn đầu tư? Bên cạnh đó là các mục tiêu khác như: Kinh doanh an toàn, phát triển và củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. + Phác thảo phương án kinh doanh: Từ mục tiêu đã đề ra phải phác thảo phương án tiến hành kinh doanh các mặt hàng đã lựa chọn trên thị trường mục tiêu: Mặt hàng kinh doanh, đối tác, dung lượng, giá cả, chất lượng, bao bì, kí mã hiệu, thời gian giao hàng, 12 hình thức thanh toán. và tính toán mức lợi nhuận dự tính sẽ thu được. Người lập phương án kinh doanh có thể đưa ra nhiều phương án và lựa chọn phương án xem phương án nào có tính khả thi cao nhất, tối ưu nhất.
Để làm được điều đó phải tiến hành đánh giá các phương án đã được hoạch định trên cơ sở các chỉ tiêu: Tổng doanh thu dự kiến, mức lợi nhuận dự tính, tỷ suất lãi trên vốn đầu tư, tỷ suất chi phí phát sinh Trong quá trình lập phương án kinh doanh phải đảm bảo yêu cầu sau: - Phương án kinh doanh phải thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và thị trường. - Phù hợp với điều kiện và khả năng của doanh nghiệp. - Phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của doanh nghiệp. - Phải có tính khả thi và an toàn - Đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của toàn xã hội.2 Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng 1.
Giao dịch, đàm phán + Giao dịch là một quá trình trao đổi thông tin về các điều kiện thương mại giữa các bên tham gia. Trong mỗi giao dịch Thương mại quốc tế đều phải tiến hành theo các phương thức nhất định. Căn cứ vào mặt hàng, đối tượng, thị trường, thời gian giao dịch và trình độ của người tiến hành giao dịch cũng như thời cơ, tính chất của từng thương vụ mà các doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương thức giao dịch nào cho phù hợp. Trong lịch sử phát triển Thương mại quốc tế có một số phương thức giao dịch cơ bản và phổ biến như: giao dịch trực tiếp ( giao dịch thông thường), giao dịch qua trung gian, buôn bán đối lưu, đấu thầu quốc tế, giao dịch tại hội chợ và triển lãm, giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá, giao dịch tái xuất.
Trong kinh doanh quốc tế, quá trình giao dịch thường gồm các bước: - Hỏi giá: là việc người mua đề nghị người bán cho biết giá cả và các điều kiện thương mại cần thiết để mua hàng. Mục đích cơ bản của hỏi giá là để nhận được các báo giá 13 với thông tin đầy đủ nhất về hàng hoá, quy cách, phẩm chất, số lượng, bao bì, điều kiện giao hàng, giá cả, điều kiện thanh toán và các điều kiện thương mại khác. - Chào hàng: Được coi là một lời đề nghị ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá được chuyển cho một hay nhiều người xác định. Nội dung cơ bản của chào hàng gồm: tên hàng, số lượng, quy cách phẩm chất, giá cả phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng cùng với các điều kiện khác như bao bì, ký mã hiệu.
Chào hàng có thể do người bán hoặc người mua đưa ra. Tuy nhiên trước khi chào hàng cần nắm được quan hệ cung cầu về loại hàng đó trên thị trường thế giới, mức giá hiện hành trên thị trường, nhu cầu của đối phương và khả năng của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó doanh nghiệp cần xác định nên đưa ra đơn chào hàng cố định hay đơn chào hàng tự do. Dù chào hàng theo cách nào, đơn chào hàng cũng cần rõ ràng và có sức hấp dẫn.
Sức hấp dẫn không chỉ thể hiện ở giá thấp, sự giảm giá mà có thể ở cả dịch vụ cung cấp cho người mua, phẩm chất hàng tốt, điều kiện thanh toán có lợi cho người mua. - Đặt hàng: Là lời đề nghị ký hợp đồng thương mại của người mua. Về nguyên tắc, nội dung của đặt hàng phải đầy đủ các nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng. Bởi vì đặt hàng là đề nghị chắc chắn về việc ký hợp đồng xuất phát từ người mua.