Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội và an ninh quốc gia trên phạm vi toàn cầu. Theo các báo cáo khí tượng quốc tế, trong 100 năm qua mực nước biển toàn cầu đã dâng lên 0,31m và dự báo nhiệt độ trung bình trái đất sẽ tăng từ 2,0 độ C đến 4,5 độ C vào cuối thế kỷ XXI. Tại Việt Nam, nếu mực nước biển dâng thêm 1m, ước tính có khoảng 12,2% diện tích đất tự nhiên bị ngập, đe dọa sinh kế của 23% dân số tương đương 17 triệu người, đồng thời khoảng 45% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị nhiễm mặn nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong công tác bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn và bảo vệ an toàn các mục tiêu kinh tế - chính trị trọng điểm.

Tuy nhiên, hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin nâng cao nhận thức về môi trường và khí hậu trong ngành vẫn chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện bằng dữ liệu thực chứng. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Biến đổi khí hậu của tác giả Hoàng Văn Nhị, thực hiện tại Khoa Các khoa học liên ngành - Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải, giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá thực trạng tiếp nhận thông tin và đo lường hiệu quả các kênh truyền thông về biến đổi khí hậu trong lực lượng Công an nhân dân. Phạm vi nghiên cứu tiến hành khảo sát tại khối 42 trại giam và 50 đơn vị Công an địa phương trên toàn quốc trong giai đoạn 2015-2016. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi lần đầu tiên cung cấp hệ số đo lường khoa học về mức độ sử dụng phương tiện truyền thông của cán bộ chiến sĩ, tạo tiền đề để lãnh đạo các cấp tối ưu hóa nguồn lực tài chính và phương thức tuyên truyền trong tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa khoa học biến đổi khí hậu và lý luận truyền thông đại chúng. Tác giả đã vận dụng hai mô hình lý thuyết kinh điển: Mô hình truyền thông đường thẳng của Shannon và Weaver (phân tích tiến trình tuyến tính từ nguồn phát, thông điệp mã hóa, kênh dẫn truyền, đối tượng nhận tin đến sự xuất hiện của các rào cản nhiễu) và Mô hình truyền thông có sự tham gia, hội tụ của Everett và Lawrence năm 1981 cùng các luận điểm tương tác của Wilbur Schramm. Các mô hình này giúp lượng hóa cơ chế chia sẻ thông tin hai chiều và mức độ thấu hiểu thông điệp giữa các chủ thể.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm: định nghĩa biến đổi khí hậu theo Công ước Khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu năm 1994, hiệu ứng nhà kính với sự gia tăng nồng độ cacbon dioxit từ 280ppm thời tiền công nghiệp lên 379ppm năm 2005, các hiện tượng thời tiết cực đoan và rào cản nhận thức trong truyền thông môi trường. Về cơ sở pháp lý, luận văn gắn kết chặt chẽ với hệ thống văn bản pháp luật hiện hành như Luật Bảo vệ Môi trường 2014, Luật Công an nhân dân 2014, Quyết định 2139/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và hơn 300 văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Công an.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp và điều tra xã hội học định lượng diện rộng. Quy mô khảo sát được xác lập với 460 phiếu điều tra phát ra tới 42 trại giam và 50 đơn vị Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp định ngạch ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện theo cơ cấu giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn và đặc thù địa bàn đóng quân tại các khu vực thường xuyên chịu rủi ro thiên tai.

Kết quả thu về đạt 213 phiếu hợp lệ từ 24 trại giam và 40 đơn vị Công an địa phương, đạt tỷ lệ phản hồi 46,3%. Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tần số và kiểm định tương quan chéo là nhằm nhận diện chính xác mối quan hệ giữa các biến số nhân khẩu học với thói quen sử dụng 4 kênh truyền thông chủ lực: báo chí in, tạp chí chuyên ngành, truyền hình và đài phát thanh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả xử lý từ 213 phiếu khảo sát hợp lệ đã làm sáng tỏ cấu trúc nhân khẩu học và thói quen tiếp nhận thông tin của cán bộ chiến sĩ:

  • Cơ cấu nhân khẩu học: Độ tuổi từ 34 đến 45 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo với 62,4%, nhóm dưới 30 tuổi chiếm 20,2% và nhóm từ 45 đến 60 tuổi chiếm 17,4%. Về trình độ học vấn, cán bộ có trình độ Đại học chiếm 77%, Trung cấp chiếm 16,4%, Cao đẳng chiếm 4,7% và Thạc sĩ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Tỷ lệ giới tính phản ánh tính chất công tác đặc thù với 83,1% nam giới và 16,9% nữ giới.
  • Mức độ sử dụng phương tiện truyền thông: Truyền hình (Tivi) là kênh tiếp cận phổ biến nhất khi có tới 95,3% cán bộ chiến sĩ sử dụng hằng ngày để cập nhật thông tin. Báo in và báo điện tử xếp thứ hai với 81,2% cán bộ đọc hằng ngày và 24% đọc hằng tuần. Kênh đài phát thanh ghi nhận 55,9% cán bộ theo dõi thường xuyên, nhưng có 24,9% hoàn toàn không nghe. Tạp chí chuyên ngành có tỷ lệ đọc hằng tháng đạt 31,9%, hằng ngày đạt 25,8%, nhưng tỷ lệ không bao giờ đọc chiếm mức đáng kể là 17,4%.
  • Mức độ quan tâm các chuyên mục đời sống: Lĩnh vực Thời sự - Chính trị thu hút sự quan tâm cao nhất với 72,8% cán bộ rất quan tâm và 26,3% quan tâm. Lĩnh vực Kinh tế - Xã hội đứng thứ hai với 54,5% rất quan tâm và 41,8% quan tâm. Đáng chú ý, chuyên mục Môi trường và Biến đổi khí hậu chỉ có khoảng 35% đến 40% cán bộ thực sự chú trọng theo dõi thường xuyên.
  • Khung giờ và sự phân hóa theo lứa tuổi: Cán bộ dưới 30 tuổi ưu tiên tiếp nhận thông tin qua internet và mạng xã hội trong khung giờ từ 20h00 đến 24h00. Ngược lại, nhóm cán bộ trên 45 tuổi duy trì thói quen đọc báo giấy và nghe đài phát thanh trong khung giờ sáng từ 06h00 đến 10h00.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của truyền hình (95,3%) và báo chí (81,2%) bắt nguồn từ đặc thù sinh hoạt tập trung, chế độ giao ban trực ban và việc phổ biến kênh Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) tại tất cả các đơn vị. Ngược lại, tỷ lệ 17,4% cán bộ không tiếp cận tạp chí và 24,9% không nghe đài phát thanh cho thấy các hình thức truyền thông thuần văn bản dài hoặc chỉ có âm thanh đang giảm dần sức cạnh tranh trước yêu cầu tiếp nhận thông tin nhanh gọn.

So sánh với các nghiên cứu truyền thông trong khối dân sự tại Việt Nam, mức độ tiếp cận báo chí chính luận của cán bộ chiến sĩ Công an cao hơn đáng kể, song mức độ hiểu biết chuyên sâu về cơ chế khí nhà kính và biến đổi khí hậu lại có xu hướng tương đồng ở mức cơ bản. Nhằm tăng cường tính trực quan cho công tác quản trị, các dữ liệu này có thể được trình bày sinh động qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ tiếp cận phương tiện theo độ tuổi và bảng ma trận tương quan giữa khung giờ vàng phát sóng với tỷ lệ ghi nhớ thông điệp cứu nạn, cứu hộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực chứng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông về biến đổi khí hậu trong ngành Công an:

  • Đổi mới format và khung giờ phát sóng truyền hình: Nâng cấp chuyên mục biến đổi khí hậu trên Truyền hình CAND (ANTV), tăng thời lượng phát sóng lên 15-20 phút mỗi tuần vào khung giờ vàng 20h00 - 21h30. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ cán bộ chiến sĩ nắm vững quy trình xử lý thiên tai lên trên 85% trước quý 4 năm 2018; giao Cục Truyền thông CAND phối hợp Cục Quản lý Khoa học công nghệ và Môi trường thực hiện.
  • Chuẩn hóa tài liệu và chương trình tập huấn thực chiến: Biên soạn lại bộ giáo trình kỹ năng ứng phó rủi ro khí hậu, tổ chức định kỳ 2 đợt tập huấn hằng năm cho 100% cán bộ chỉ huy và cán bộ phụ trách công tác hậu cần, y tế tại 42 trại giam và Công an các tỉnh ven biển; Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật chủ trì triển khai trong giai đoạn 2018-2020.
  • Trực quan hóa ấn phẩm báo chí và tạp chí nội bộ: Chuyển đổi các bài nghiên cứu lý thuyết trên Tạp chí Khoa học công nghệ và Môi trường Công an sang dạng đồ họa thông tin (infographic) và tin tức số ngắn gọn, phấn đấu giảm tỷ lệ cán bộ không đọc tạp chí từ 17,4% xuống dưới 5% trong vòng 18 tháng; Ban biên tập các cơ quan báo chí ngành Công an trực tiếp đảm trách.
  • Tích hợp truyền thông vào kế hoạch diễn tập thực địa: Lồng ghép nội dung phòng chống bão lũ, ngập lụt và cứu hộ cứu nạn vào chương trình huấn luyện thường niên tại 100% Công an 63 tỉnh, thành phố, tổ chức kiểm tra thực địa định kỳ 6 tháng một lần; giao Công an các địa phương và Ban Chỉ đạo Ứng phó biến đổi khí hậu ngành Công an thực hiện từ năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Lãnh đạo chỉ huy và cơ quan quản lý hậu cần, môi trường Bộ Công an: Vận dụng số liệu khảo sát từ 213 mẫu thực tế để hoạch định ngân sách sự nghiệp môi trường hằng năm, tập trung nguồn lực vào các kênh truyền thông mũi nhọn thay vì đầu tư dàn trải.
  • Đội ngũ phóng viên, biên tập viên báo chí và truyền hình CAND: Nắm vững thị hiếu tiếp nhận (95,3% xem truyền hình, 81,2% đọc báo hằng ngày) để thiết kế thông điệp truyền thông ngắn gọn, sinh động, phát sóng trúng khung giờ cao điểm của cán bộ chiến sĩ.
  • Ban Giám thị các trại giam, trường giáo dưỡng và chỉ huy Công an địa phương: Sử dụng các giải pháp tổ chức tuyên truyền lồng ghép để nâng cao kỹ năng ứng phó thiên tai, bảo đảm an toàn tính mạng cho cán bộ, phạm nhân và bảo vệ cơ sở vật chất đóng quân.
  • Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Biến đổi khí hậu và Xã hội học truyền thông: Kế thừa khung lý thuyết và phương pháp khảo sát phân tầng độc lập trong lực lượng vũ trang để phát triển các công trình nghiên cứu mở rộng trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

  • Mục tiêu cốt lõi của luận văn nghiên cứu về truyền thông biến đổi khí hậu trong ngành Công an là gì? Luận văn tập trung đánh giá thực trạng tiếp nhận thông tin và đo lường hiệu quả các kênh truyền thông về biến đổi khí hậu của cán bộ chiến sĩ. Từ khảo sát thực tế tại 42 trại giam và 50 đơn vị Công an địa phương, tác giả đề xuất giải pháp tối ưu hóa công tác tuyên truyền và nâng cao năng lực ứng phó thiên tai toàn diện.

  • Phương tiện truyền thông nào đạt hiệu quả tiếp cận cao nhất đối với lực lượng Công an? Kết quả phân tích định lượng chỉ ra rằng Truyền hình (Tivi) đạt tỷ lệ tiếp cận cao nhất với 95,3% cán bộ chiến sĩ theo dõi hằng ngày. Báo in và báo điện tử xếp vị trí thứ hai với 81,2%, khẳng định đây là hai kênh tuyên truyền chủ lực cần được ưu tiên đầu tư phát triển nội dung.

  • Vì sao tỷ lệ cán bộ chiến sĩ tiếp cận tạp chí chuyên ngành môi trường còn hạn chế? Khảo sát ghi nhận 17,4% cán bộ không đọc tạp chí do dung lượng bài viết dài, nặng tính lý thuyết hàn lâm và thiếu tính trực quan. Bên cạnh đó, đặc thù công tác chiến đấu khẩn trương khiến cán bộ ưu tiên các bản tin truyền hình ngắn gọn và thông tin thời sự cập nhật nhanh trên báo hằng ngày.

  • Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp nào để bảo đảm tính chuẩn xác của dữ liệu? Tác giả đã phát 460 phiếu khảo sát theo phương pháp chọn mẫu phân tầng và thu về 213 phiếu hợp lệ từ 64 đơn vị, trại giam trên toàn quốc. Toàn bộ dữ liệu được phân tích khoa học trên phần mềm SPSS, kết hợp đối chiếu với hơn 300 văn bản chính sách pháp luật hiện hành của Nhà nước và Bộ Công an.

  • Các đơn vị Công an cơ sở có thể áp dụng ngay những giải pháp truyền thông nào? Công an các đơn vị có thể triển khai ngay việc phát thanh bản tin thời tiết cực đoan qua loa nội bộ trước giờ giao ban, ứng dụng đồ họa thông tin infographic trên bảng tin nội bộ và tổ chức diễn tập ứng phó ngập lụt định kỳ 6 tháng một lần theo đúng hướng dẫn thực tế của luận văn.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng tiếp cận thông tin với 95,3% cán bộ chiến sĩ xem truyền hình và 81,2% đọc báo hằng ngày.
  • Nhận diện khoảng trống thông tin khi mức độ quan tâm đến môi trường và biến đổi khí hậu (khoảng 35% đến 40%) còn thấp hơn nhiều so với thời sự chính trị (72,8%).
  • Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu định lượng gồm 213 mẫu khảo sát thực chứng từ 42 trại giam và 50 Công an địa phương trên cả nước.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa đổi mới truyền hình ANTV, infographic hóa báo chí và diễn tập thực chiến trong giai đoạn 2018-2020.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao năng lực quản trị môi trường và phòng chống thiên tai trong lực lượng vũ trang.

Luận văn của tác giả Hoàng Văn Nhị là công trình tiên phong lượng hóa hiệu quả truyền thông về biến đổi khí hậu trong ngành Công an. Các đơn vị chức năng cần khẩn trương số hóa tài liệu nghiệp vụ trong quý 1 năm 2018 và triển khai tập huấn đồng bộ vào quý 3 năm 2018. Lãnh đạo Công an các cấp và cán bộ chiến sĩ cần chủ động vận dụng các khuyến nghị của đề tài nhằm tăng cường năng lực ứng phó thiên tai, bảo đảm an ninh trật tự và phát triển bền vững đất nước.