Chương 1: Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp hiện nay. - Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Thuduc House. -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HVTH: Lê Bích Trâm 15 GVH : TS Nguyễn Xuân oàn Trường ại học GTVT Lớp: Cao hoïc K18 – Chuyên ngành QTKD ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------- - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Thuduc House. hương 1: Lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp hiện nay 1.
Khái quát chung về vốn của doanh nghiệp: 1. Khái niệm vốn của doanh nghiệp: Để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì điều đầu tiên mà các doanh nghiệp phải quan tâm và nghĩ đến là làm thế nào để có đủ vốn và sử dụng nó như thế nào để để đem lại hiệu quả cao nhất. Vậy vấn đề đặt ra ở đây – Vốn là gì? Các doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn thì đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn.
Vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tức là mục đích tích lũy chứ không phải mục đích tiêu dùng như một vài quỹ khác trong Doanh nghiệp. Đứng trên những góc độ khác nhau ta có cách nhìn khác nhau về vốn. Theo quan điểm của Mark - nhìn nhận dưới góc độ sản xuất thì ông cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thăng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”.
Tuy nhiên, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thăng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan điểm của Mark.Samuelson, một đại diện tiêu biểu của thuyết học kinh tế hiện đại cho rằng: “Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hóa vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HVTH: Lê Bích Trâm 16 GVH : TS Nguyễn Xuân oàn Trường ại học GTVT Lớp: Cao hoïc K18 – Chuyên ngành QTKD ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------- hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó. Một số hàng hóa có thể tồn tại trong nhiều năm, trong khi một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn.
Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Trong cuốn kinh tế học của David Begg cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”. Như vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Trong đó: - Vốn hiện vật: là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hành hóa khác.
- Vốn tài chính: là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp. Ngoài ra, có nhiều quan niệm khác về vốn nhưng mọi quá trình sản xuất kinh doanh đều có thể khái quát thành: T…… (TLL , TLSX)….T’ Để có các yếu tố đầu vào (TLLĐ, TLSX) phục vụ cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này gọi là vốn của doanh nghiệp. Vậy “vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận”. Nhưng tiền không phải là vốn, nó trở thành vốn khi hội đủ các điều kiện sau: - Thứ nhất: tiền phải đại diện cho một hàng hóa nhất định hay nói cách khác, tiền phải được đảm bảo bằng một lượng hàng hóa có thật.
- Thứ hai: tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định. Có được điều đó mới làm cho vốn có đủ sức để đầu tư một dự án kinh doanh dù là nhỏ nhất. Nếu tiền nằm rải rác khắp nơi mà không được thu gom lại thành một món lớn thì cũng không làm gì -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HVTH: Lê Bích Trâm 17 GVH : TS Nguyễn Xuân oàn Trường ại học GTVT Lớp: Cao hoïc K18 – Chuyên ngành QTKD ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------- được. Vì vậy, một doanh nghiệp muốn khởi điểm thì phải có một lượng vốn pháp định đủ lớn.
Muốn kinh doanh tốt thì doanh nghiệp phải tìm cách gom tiền thành món lớn để đầu tư vào phương án sản xuất của mình. - Thứ ba: khi có đủ lượng tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Từ những vấn đề trên, ta thấy vốn có những đặc điểm sau: Thứ nhất: vốn là hàng hóa đặc biệt vì những lý do sau: - Giá trị của vốn thể hiện ở chi phí mà ta bỏ ra để có được nó. - Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó để đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh như: mua máy móc, thiết bị vật tư, hàng hóa, … - Vốn là hàng hóa đặc biệt vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu nó.
Khi mua nó chúng ta có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó. - Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ nó không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó. Chính vì vậy, giá trị của nó phụ thuộc vào lợi ích cận biên của bất kỳ doanh nghiệp nào. Điều này đặc ra nhiệm vụ đối với các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng dư tối đa, đủ trả chi phí đã bỏ ra mua nó nhằm đạt được hiệu quả lớn nhất.
Thứ hai: vốn phải gắn liền với với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng vốn vô chủ. Thứ ba: vốn phải luôn vận động sinh lời Thứ tư: vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HVTH: Lê Bích Trâm 18 GVH : TS Nguyễn Xuân oàn Trường ại học GTVT Lớp: Cao hoïc K18 – Chuyên ngành QTKD ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà có một lượng vốn nhất định, khác nhau giữa các doanh nghiệp. Để góp phần nâng cao sử dụng vốn tại công ty, ta cần phải phân loại vốn để có biện pháp quản lý tốt hơn.
Các nguồn vốn của doanh nghiệp và phương thức huy động: Tùy theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được da dạng hóa nhằm khai thác mọi nguồn vốn trong nguồn kinh tế. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh nên việc khai thác vốn có những nét đặc trưng nhất định. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và thị trường tài chính sẽ sớm tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng khả năng thu hút vốn vào kinh doanh.
Sau đây là các nguồn vốn và phương thức huy động vốn (còn gọi là phương thức tài trợ) mà các doanh nghiệp có thể sử dụng.1 Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp: Đối với mọi loại hình của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu: - Vốn góp ban đầu. - Lợi nhuận không chia - Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới. Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông – chủ sở hữu góp. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng xem xét hình thức sở hữu -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HVTH: Lê Bích Trâm 19 GVH : TS Nguyễn Xuân oàn Trường ại học GTVT Lớp: Cao hoïc K18 – Chuyên ngành QTKD ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------- của doanh nghiệp đó vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của nhà nước. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước. Hiện nay, cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn của doanh nghiệp Nhà Nước nói riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế. Đối với các doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Chẳng hạn, đối với một Công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đông góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau, do đó cách thức huy động cổ phần cũng khác nhau. Trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau như: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), Công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các nguốn vốn cũng tương tự như trên; tức là vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, do các bên tham giaa, các đối tác đóng góp, … Tỷ lệ và qui mô góp vốn của các bên tham gia Công ty phụ thuộc vào nhiếu yếu tố khác nhau (như luật pháp, đặc điểm ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu liên doanh).
Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: Qui mô vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu rố quan trọng. Tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo qui mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn. Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia – nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc từ bên ngoài.