ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng có vai trò quan trọng trong đời sống con người và xã hội,là tài nguyên quan trọng. Rừng cung cấp gỗ và các loại lâm sản, điều hòa khí hậu, giữ nước, giữ đất và làm sạch không khí. Ở Việt Nam với địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ thì rừng đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế và môi trường sinh thái, có giá trị to lớn góp phần vào sự phát triển chung của quốc gia. Nhưng với nhiều nguyên nhân xuất phát từ những hoạt động của con người như khai thác lâm sản quá mức, nhu cầu về lương thực, nhà ở dẫn đến việc chặt phá rừng, cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến gỗ, giấy, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để trồng cây công nghiệp, sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng như xây dựng, giao thông,.
đã và đang làm cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp và nhất là rừng nhiệt đới.Mất rừng gây ra những hậu quả nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trường. Theo thống kê của tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), trong 16 năm (1980 - 1995) cả thế giới có khoảng 237 triệu héc ta rừng tự nhiên bị mất. Đặc biệt khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ mất rừng cao nhất là 1,6%/năm. Ở Việt Nam tình hình diễn biến tài nguyên rừng cũng xảy ra tương tự, năm 1943, diện tích rừng toàn quốc là 14,3 triệu héc ta, đến năm 1990 chỉ còn 9,3 triệu héc ta.
Từ năm 1990, thực hiện Chương trình 327 và Chương trình trồng mới 5 triệu héc ta rừng, diện tích rừng đã tăng lên. Tuy nhiên chất lượng rừng lại suy giảm; rừng tự nhiên có 10,3 triệu héc ta nhưng rừng già chỉ chiế m 6%, phần còn lại chủ yếu là rừng non mới phục hồi, rừng nghèo, nghèo kiệt; rừng trồng có 3,2 triệu héc ta chủ yế u các loài như Thông, Bạch đàn và mô ̣t số loài Keo. Yên Thế là huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang có tổng diện tích tự nhiên 30.308,6 ha; diện tích có rừng 14.020,9 ha rừng tự nhiên, ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.100,5 ha rừng trồng. Độ che phủ của rừng đạt 38,0% (chưa tính diện tích rừng mới trồng năm 2013).
Tài nguyên rừng có vai trò quan trọng bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Trong giai đoạn 1995 - 2010 rừng và đất lâm nghiệp huyện Yên Thế có biến động lớn về trạng thái, cơ cấu sử dụng đấtdo việc sản xuất tự phát của nhân dân và hiệu quả thất thường của cây ăn quả Vải thiều.Những năm gần đâynhờ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào trồng rừng, ngành lâm nghiệp Huyện đạt được những thành tựu quan trọng, đã trồng mới hàng nghìn héc ta rừng vàbảo vệ diện tích rừng tự nhiên còn lại. Sản xuất lâm nghiệp đã có đóng góp đáng kể vào cơ cấu kinh tế của của huyện.Bên cạnh các thành tựu thì sản xuất lâm nghiệp của Huyện cũng còn hạn chế đó là tính bền vững không cao, rừng trồng chủ yếu vẫn là sản xuất gỗ nhỏ cung cấp gỗ nguyên liệu giấy sợi, gỗ trụ mỏ, cây chống,. chu kỳ kinh doanh ngắn, chưa chú trọng sản xuất gỗ lớn.Tập đoàn cây trồng còn đơn điệu chưa đáp ứng được chức năng phòng hộ, cải tạo đất và môi trường sinh thái;rừng tự nhiên ngày càng nghèo và diện tích thu hẹp nhanh chóng.
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang”. Trong phạm vi một đề tài nghiên cứu khoa học tốt nghiệp trình độ thạc sĩ, do thời gian và trình độ còn hạn chế, chúng tôi không kỳ vọng sẽ giải quyết được tất cả mọi vấn đề, tuy nhiên chúng tôi hy vọng luận văn này cũng sẽ đóng góp một phần vào sự nghiệp phát triển lâm nghiệp của huyện Yên Thế, góp phần quản lý bền vững và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn. Đây cũng là một tài liệu mà các cơ quan, ban ngành liên quan của tỉnh Bắc Giang, huyện Yên Thế có thể tham khảo khi xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển lâm nghiệp trên địa bàn. ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chương1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Đất lâm nghiệp Theo Luật Đất đai năm 2013: “Đất lâm nghiệp nằm trong nhóm đất nông nghiệp bao gồm 3 loại: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng” [24, Điều 10] 1. Rừng Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng như sau: - Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,…có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan. - Độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên. - Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên [3, Điều 3].
Đất chưa có rừng - Đất có rừng trồng chưa thành rừng; - Đất trống có cây gỗ tái sinh; - Đất trống không có cây gỗ tái sinh; - Núi đá không cây [3, Điều 9]. Biến động rừng và đất lâm nghiệp - Biến động về mục đích sử dụng rừng: Là sự thay đổi về mục đích sử dụng giữa 3 loại rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất. ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Biến động về trạng thái rừng: Là sự thay đổi giữa các trạng thái rừng, biến động về chất lượng, trữ lượng của rừng. - Biến động về mục đích sử dụng đất: Là sự thay đổi về mục đích sử dụng giữa đất lâm nghiệp và các loại đất khác.
Quản lý rừng bền vững Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâmphận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra mộtcách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn màkhông làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gâyra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Theo Tiến trình Helsinki, “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức vàmức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống củarừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năngsinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gâyra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”[7]. Mặc dù có sự sai khác nhất định trong cách diễn đạt ngôn từ, nhưng các khái niệm đều hướng vào mô tả mục tiêu chung của quản lý rừng bền vững. Đó là quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.
Những mục tiêu cơ bản của quản lý rừng bền vững được giải thích như sau: Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệuquả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì và phát triển diện tích, trữlượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng). Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thựchiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 và quyền lợi cũng như mốiquan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương. Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộmôi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đốivới các hệ sinh thái khác. Công tác theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp ở Việt Nam 1.
Chương trình điều tra đánh giá theo dõi diễn biến tài nguyên rừng Từ năm 1991, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định giao cho Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thực hiện chương trình điều tra đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Đây là một chương trình điều tra cơ bản về rừng được thực hiện dưới hình thức điều tra liên tục và thống nhất về kỹ thuật trên phạm vi toàn quốc theo từng chu kỳ 5 năm. Đến nay, chương trình đã thực hiện được bốn chu kỳ (1991-1995, 1996- 2000, 2001-2005 và chu kỳ IV 2006-2010). Quá trình thực hiện chương trình điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng bước đầu đáp ứng các yêu cầu về thông tin cho công tác quản lý tài nguyên rừng cũng như cho các yêu cầu liên quan khác.
Kết quả thực hiện tổng kiểm kê rừng toàn quốc năm 1999 theo Chỉ thị 286/CT-TTg Ngày 02/5/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 286/CT-TTg, trong đó giao cho Bộ Nông nghiêp̣ và Phát triể n nông thôn chủ trì phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan tiến hành kiểm kê các loại rừng trên cả nước. Đến 31/12/1999, về cơ bản toàn bộ diện tích rừng và đất trống đồi núi trọc trên phạm vi toàn quốc đã được kiểm kê xong với những mức đô ̣ kết quả khác nhau. Trên cơ sở các tài liệu kiểm kê giúp cho các cấp chính quyền từ xã, huyện, tỉnh và các chủ rừng có trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát triển ` LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 rừng; Nhà nước tiến hành hoạch định các chính sách xây dựng và phát triển lâm nghiệp và các đơn vị, địa phương tiến hành xác định cắm mốc ranh giới quản lý, bảo vệ rừng của đơn vị và địa phương mình, nhất là xác định mốc ranh giới các khu rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.