phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 phần chính: Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM. Chƣơng 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH Ở CÔNG TY BẢO HIỂM THANH HOÁ (GIAI ĐOẠN 2002 – 2006). Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH Ở CÔNG TY BẢO HIỂM THANH HOÁ. iv CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM.1 HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƢỜNG.
Hiệu quả kinh doanh Bảo hiểm là mức độ đáp ứng các yêu cầu kinh tế – xã hội đã đề ra cho ngành Bảo hiểm nói chung và cho các DNBH nói riêng. Nó đƣợc đo bằng sự phát triển của bản thân doanh nghiệp và khối lƣợng dịch vụ Bảo hiểm tạo ra cho xã hội với chi phí hợp lý và tiết kiệm nhất. * Một số quan điểm về xác định hiệu quả kinh doanh Bảo hiểm : Quan điểm 1 : Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm có thể đƣợc xác định bằng cách so sánh kết quả của hoạt động Bảo hiểm với chi phí toàn bộ cho hoạt động này ở trạng thái động. Nghĩa là muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả cần phải làm sao cho kết quả tăng nhanh hơn chi phí bỏ ra.
Quan điểm 2 : Trên quan điểm này thì để phân tích sâu sắc hơn hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phải xem xét tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh doanh nhƣ : + So sánh giữa doanh thu và chi phí toàn bộ (điều này phản ánh tình hình chung của DNBH) + So sánh tổng lợi nhuận (hoặc của từng nghiệp vụ) với tổng chi phí (hoặc chi phí bộ phận). Đây là chỉ tiêu phản ánh lỗ, lãi của doanh nghiệp. + So sánh số tiền bồi thƣờng với tổng chi phí (cũng tính chung hoặc cho từng nghiệp vụ bảo hiểm). Chỉ tiêu này nói lên hiệu quả xã hội, khắc phục tổn thất cho ngƣời đƣợc bảo hiểm.
+ So sánh số lƣợng khách hàng với tổng chi phí phải bỏ ra của DNBH. v Sự tăng hoặc giảm các chỉ tiêu này giữa 2 thời kỳ sẽ nói lên mức độ hiệu quả trong hoạt động của các DNBH. Quan điểm 3 : Quan điểm này cho rằng để đánh giá hiệu quả kinh doanh Bảo hiểm một cách đầy đủ hơn cần phải xem xét mức độ tích luỹ của quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và mức độ tích luỹ dự trữ của quỹ bảo hiểm. Mức độ tích luỹ càng cao thì khả năng phát triển kinh doanh của DNBH càng lớn.
Trƣờng hợp các quỹ này không tăng mà có dấu hiệu mất khả năng chi trả, bồi thƣờng cho khách hàng có nghĩa hoạt động kinh doanh bảo hiểm không có hiệu quả. ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm có những đặc điểm sau: * Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh sản phẩm đặc biệt, bởi ngoài những đặc điểm chung của một sản phẩm dịch vụ thì sản phẩm bảo hiểm còn có những đặc điểm riêng có của sản phẩm và có đối tƣợng kinh doanh đa dạng. Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm đặc biệt vì : Thứ nhất: Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình. Thứ hai: Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có “hiệu quả xê dịch”.
Thứ ba: Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm của chu trình sản xuất kinh doanh đảo ngƣợc. Do vậy, không thể tính chính xác đƣợc giá thành của một sản phẩm bảo hiểm vào lúc bán. Thứ tư: Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm dễ bắt chƣớc Thứ năm: Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không thể lƣu trữ đƣợc * Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn DNBH khi thành lập phải có đủ số vốn theo luật định. Luật kinh doanh bảo hiểm cũng nêu rằng : “Chính phủ quy định mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm”.
Theo tính chất kinh vi doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Chính phủ đã quyết định số vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phải cao hơn doanh nghiệp cùng loại, mới có đủ năng lực để thực hiện trách nhiệm tài chính đối với khách hàng * Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Bảo hiểm là sản phẩm không định hình. Hơn nữa việc mua bán sản phẩm bảo hiểm có thể coi đơn giản tạo ra một trò cá cƣợc cho nhà bảo hiểm bởi số phí thu đƣợc rất ít nhƣng có thể phải trả một khoản tiền bồi thƣờng lớn. Tất cả các khoản tiền đƣợc trích ra từ phí bảo hiểm phục vụ cho mục đích bồi thƣờng hay chi trả bảo hiểm thực hiện theo các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm với mục đích đảm bảo quyền lợi cho ngƣời tham gia đƣợc gọi là các quỹ dự phòng nghiệp vụ. * Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn gắn kết với hoạt động đầu tư Các tổ chức bảo hiểm có khả năng tập trung vốn rất lớn.
Thông qua hoạt động bảo hiểm mà một lƣợng tiền vốn nằm phân tán, rải rác đã đƣợc tập trung lại hình thành nên những quỹ tiền tệ tƣơng đối lớn.Số vốn mà các tổ chức bảo hiểm tập trung đƣợc với đặc điểm là số phí nộp trƣớc của ngƣời tham gia còn khoản tiền trả bảo hiểm, bồi thƣờng chỉ đƣợc thực hiện sau đó một thời gian, có thể là khá dài, nên thông thƣờng phải có thời gian tạm thời nhàn rỗi. Do vậy lƣợng tiền vốn nhàn rỗi này sẽ đƣợc các DNBH đem đi đầu tƣ. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DNBH * Các nhân tố bên ngoài - Điều kiện kinh tế – xã hội – tự nhiên Nhân tố kinh tế : Các nhân tố kinh tế bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng nhất trong sự vận động và phát triển của thị trƣờng bảo hiểm. Các nhân tố này có ảnh hƣởng rất mạnh tới hiệu quả kinh doanh của DNBH.
vii Điều kiện xã hội :Sự ảnh hƣởng này thể hiện: sức khoẻ, tài sản. của con ngƣời là đối tƣợng của bảo hiểm; nhu cầu, thu nhập, khả năng thanh toán. ảnh hƣởng tới việc bán sản phẩm của các DNBH. Sự ảnh hƣởng này không những ảnh hƣởng tới “cầu” mà còn ảnh hƣởng tới cả “cung” các sản phẩm bảo hiểm.
Khi thu nhập và khả năng thanh toán gia tăng, điều đó đồng nghĩa với việc tăng lên mạnh mẽ của những nhu cầu tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm. Nhân tố về điều kiện tự nhiên : Không thể không kể đến các nhân tố về điều kiện tự nhiên nhƣ thời tiết, khí hậu, môi trƣờng sinh thái, dịch bệnh. Đây là các nhân tố có ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng xảy ra rủi ro cho con ngƣời. - Môi trường về luật pháp Kinh doanh bảo hiểm thực sự đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng, không chỉ là ngƣời bảo vệ, che chắn cho các cá nhân, ngƣời sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tổ chức kinh tế khỏi những rủi ro ngoài ý muốn, mà còn thu hút nguồn vốn đáng kể cho các mục tiêu kinh tế – xã hội thông qua thị trƣờng tài chính.
Vì vậy, hoạt động kinh doanh của DNBH ngoài việc thực hiện theo các quy định chung của Luật doanh nghiệp, các DNBH còn hoạt động theo “Luật kinh doanh bảo hiểm” (“Luật kinh doanh bảo hiểm” đã đƣợc Quốc hội thông qua ngày 9/12/2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2001) - Môi trường kinh tế Quốc tế : Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đã đƣa nền kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nói riêng có những bƣớc phát triển mới cả về lƣợng và chất. Bên cạnh sự phát triển về kinh tế, thu nhập của dân cƣ đang ngày càng đƣợc cải thiện là những yếu tố kích thích nhu cầu bảo hiểm thì các DNBH của Việt Nam cũng đang phải đứng trƣớc những thách thức mới * Các nhân tố bên trong viii - Chất lượng dịch vụ bảo hiểm: Chất lƣợng của dịch vụ bảo hiểm đƣợc thể hiện thông qua hệ thống các hành động của DNBH thực hiện để cải tiến các mặt hoạt động của mình nhằm tạo ra sự thoả mãn ngày càng cao các nhu cầu của khách hàng trong suốt quá trình trƣớc, trong và sau bán hàng. - Trình độ tổ chức bộ máy quản lý: Cần thay đổi một mô hình tổ chức quản lý cũ không phù hợp với yêu cầu của thời đại kinh tế mới thành một mô hình tổ chức mới phù hợp hơn. - Nguồn nhân lực của doanh nghiệp:Nguồn nhân lực là vốn quý nhất của doanh nghiệp, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, ngay cả khi doanh nghiệp đã lựa chọn đƣợc mô hình tổ chức tốt và có một dây chuyền công nghệ hiện đại thì vẫn cần có những con ngƣời giỏi để quản lý và sử dụng chúng.
- Khả năng về tài chính:Bảo hiểm là sản phẩm không định hình. Để đạt đƣợc giao dịch bảo hiểm, ngƣời mua phải tin tƣởng vào ngƣời bán. Khả năng về tài chính thể hiện tiềm năng của một doanh nghiệp. Với DNBH khả năng về tài chính là khả năng bồi thƣờng, khả năng trả tiền bảo hiểm, khả năng thanh khoản và khả năng tham gia vào các thị trƣờng.
- Ứng dụng công nghệ thông tin:Lĩnh vực kinh doanh là một lĩnh vực mang tính đặc thù riêng vì tính đặc biệt của sản phẩm bảo hiểm, cho nên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào kinh doanh bảo hiểm là việc làm hết sức cần thiết. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DNBH * Các chỉ tiêu tổng quát Chỉ tiêu tổng quát phản ánh một yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh sinh ra bao nhiêu kết quả đầu ra. Có 2 cách tính chỉ tiêu này : Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = (1) Yếu tố đầu vào ix Hoặc : Yếu tố đầu vào Hiệu quả kinh doanh = (2) Kết quả đầu ra Ở công thức (1) kết quả tính ra càng lớn thì hiệu quả càng cao, còn ở công thức (2) thì ngƣợc lại - Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng 1 đồng chi phí trong kỳ - Năng suất lao động bình quân * Phương pháp phân tích chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bảo hiểm - Phân tích những biến động chung của hiệu quả kinh doanh * Biến động chung của hiệu quả kinh doanh theo doanh thu : * Biến động chung của hiệu quả kinh doanh theo lợi nhuận : - Phân tích hiệu quả kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm gốc và các dịch vụ khác trong doanh nghiệp.