CHƯƠNG 1 Khóa luận tốt nghiệp - 13 - Học Viện Ngân Hàng ít biến động và KH không có nhu cầu đầu tư khác thì phần lớn các KH đều để đến khi đáo hạn mới rút tiền. - Đối với người gửi tiền, trong điều kiện lạm phát thấp hơn lãi suất tiền gửi và không có nhiều biến động về kinh tế thì TGTK có thể coi là hình thức bảo toàn vốn tốt nhất và khả năng sinh lời ổn định nhất. Người gửi tiền không phải đầu tư công sức và thời gian nhiều như các hình thức kinh doanh và đầu tư khác nhưng vẫn đảm bảo được hưởng lãi suất theo mức quy định cho từng kỳ hạn. - Nước ta đang trên đà phát triển, thu nhập dân cư ngày một tăng.
Tỷ lệ người dân có thu nhập cao cũng tăng lên. Người VN có tính tiết kiệm, làm nhiều, chi tiêu vừa phải và phần lớn có tâm lý tích trữ của cải, tiền bạc cho thế hệ mai sau. Tuy nhiên, tâm lý nắm giữ tiền mặt của người dân đang vẫn còn rất phổ biến, lượng vốn trong dân cư còn rất nhiều cho nên đây là một nguồn rất dồi dào để cho các NH khai thác. -Trong bối cảnh lãi suất đang dần có xu hướng giảm trong ba năm trở lại đây, nhiều NH thiếu hụt thanh khoản, sự cạnh tranh khốc liệt trong hệ thống NHTM và các thị trường khác (vàng, chứng khoán,.
) thì NH nào thu hút được nhiều lượng tiền gửi cũng như các hoạt động thanh toán từ dân cư thì NH đó càng có nhiều thế mạnh về vốn, về nâng cao chất lượng dịch vụ, về thương hiệu và có khả năng chiếm lĩnh được thị trường trong tương lai,…. Về mức độ cân đối của nguồn vốn huy động: NHTM huy động để cho vay và kinh doanh thu lãi, từ đó lấy lãi đó để trả cho NVHĐ đầu vào. NVHĐ từ KH cá nhân lớn đồng nghĩa với việc NH cần phải tăng cường quy mô cũng như chất lượng của các khoản cho vay và đầu tư cá nhân để không những đủ bù đắp chi phí trả lãi của các khoản tiền gửi mà còn tạo ra được lợi nhuận cho NH. Về tính hiệu quả của nguồn vốn huy động: Một NVHĐ được coi là hiệu quả khi NH đó tiết kiệm được chi phí.
Chi phí huy động cao hay thấp phụ thuộc vào mức lãi suất mà NH đưa ra và các chi phí phi lãi đi kèm. Tất nhiên, lãi suất huy SV: Lưu Khánh Vân CHƯƠNG 1 Khóa luận tốt nghiệp - 14 - Học Viện Ngân Hàng động càng cao thì càng hấp dẫn KH. Nhưng cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều là công cụ cạnh tranh của NH và hai loại này có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với nhau và có khi còn đối ngược nhau. Nếu NH nâng lãi suất huy động để tăng cường nguồn vốn đầu vào thì cũng buộc phải tăng lãi suất cho vay để đảm bảo bù đắp chi phí huy động và kinh doanh có lãi.
Như vậy, nâng lãi suất huy động quá cao lại dẫn tới giảm khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư. Yêu cầu đặt ra cho NH là phải đưa ra mức lãi suất hợp lý, vừa đảm bảo cạnh tranh trong huy động và cho vay, đồng thời đảm bảo có lãi. Do đó, cơ sở để NH tối thiểu hóa chi phí huy động ở đây là sự hợp lý về cơ cấu vốn và sự cân đối giữa nguồn và sử dụng nguồn. Các hình thức huy động vốn từ KH cá nhân - Huy động từ TGTK: Đây là một trong những phương pháp huy động truyền thống và đóng vai trò quan trọng trong NVHĐ của NH.
Đối với người gửi tiền ngoài mục đích an toàn còn có mục đích lợi nhuận. Đối với NH thì có thể gia tăng NVHĐ để phục vụ mục đích kinh doanh. - Huy động từ tài khoản tiền gửi: Đối với NH, mặc dù đây là nguồn vốn thường xuyên biến động và khó dự báo trước nếu xét trên khía cạnh của từng tài khoản.Tuy nhiên, xét trên toàn hệ thống thì nguồn vốn này lại tương đối ổn định. Hơn nữa, trong thời kỳ nguồn vốn khan hiếm, áp lực cạnh tranh gia tăng, áp lực thanh khoản tăng cao,.thì tích cực huy động từ tài khoản tiền gửi làm giảm bớt gánh nặng huy động và mở rộng thị trường của NH.
- Huy động thông qua phát hành GTCG: Dưới áp lực huy động vốn, thời gian gần đây nhiều NH đã phát hành kỳ phiếu và CDs để huy động. Việc phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi có thể giúp NH huy động được vốn dài hạn để ổn định nguồn vốn cho vay. - Huy động vốn từ vàng: Trước đây, trong thời kỳ khó khăn về huy động, nhiều NH đã đẩy mạnh huy động từ vàng sau đó chuyển đổi sang tiền mặt và ngoại SV: Lưu Khánh Vân CHƯƠNG 1 Khóa luận tốt nghiệp - 15 - Học Viện Ngân Hàng tệ như một giải pháp để giảm áp lực thanh khoản. Nhưng theo thông tư 12 của NHNN, việc huy động chứng chỉ vàng ngắn hạn của TCTD sẽ chấm dứt vào ngày 25/11/2012.
NHNN cũng quy định rõ: TCTD không được chuyển đổi vốn huy động bằng vàng dưới mọi hình thức thành đồng VN hoặc các hình thức bằng tiền khác, không được sử dụng vàng huy động để cầm cố, thế chấp, ký quỹbảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay tại TCTD khác. Cho nên đa số các NH cũng không mấy mặn mà với việc huy động bằng vàng. Các chỉ tiêu đánh giá đến hiệu quả huy động vốn từ KH cá nhân Để nâng cao hiệu quả của công tác huy động vốn đòi hỏi công tác huy động vốn phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau. Thứ nhất: NVHĐ phải xuất phát từ nhu cầu kinh doanh của NH để đảm bảo khả năng đáp ứng cho hoạt động sử dụng vốn của NH.
Tức là vốn huy động phải có sự tăng trưởng ổn định về số lượng, có thể thỏa mãn các nhu cầu tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh doanh khác của NH. Thứ hai: NVHĐ phải đảm bảo cơ cấu hợp lý, đó chính là tính cân đối theo nhu cầu giữa vốn ngắn hạn và vốn trung dài hạn, giữa huy động đồng nội tệ với huy động ngoại tệ ,… Một cơ cấu vốn hợp lý phải là một cơ cấu vốn đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng và không có tình trạng dư thừa hay thiếu hụt vốn. Thứ ba: NVHĐ phải đảm bảo tối thiểu hóa chi phí. Đây là yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của NH.
Từ những điều trên, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn từ mảng KH cá nhân bao gồm: SV: Lưu Khánh Vân CHƯƠNG 1 Khóa luận tốt nghiệp - 16 - Học Viện Ngân Hàng 1. Quy mô và cơ cấu của vốn huy động từ khách hàng cá nhân 1. Chỉ tiêu về sự gia tăng quy mô và tốc độ tăng trưởng của NVHĐ Quy mô vốn là một chỉ số tuyệt đối và nếu dùng đơn lẻ, nó không phản ánh được đầy đủ khả năng huy động vốn của một NH. Dựa vào chỉ tiêu quy mô vốn, nhiều chỉ số tương đối được xác định.
Các chỉ tiêu này cho thấy một cách đầy đủ hơn khả năng huy động vốn của NHTM. Nếu quy mô vốn cho biết độ lớn của lượng vốn NH huy động được thì tốc độ tăng trưởng phản ánh sự tăng( giảm ) của vốn tại các thời điểm khác nhau cũng như sự tăng( giảm ) đó là nhiều hay ít. Dạng tuyệt đối Mức độ tăng trưởng = Vốn huy động năm nay – Vốn huy động năm trước ( nội, ngoại tệ) ( nội , ngoại tệ ) Dạng tương đối NVHĐ năm nay Tốc độ tăng trưởng = NVHĐ năm trước Tốc độ tăng trưởng có thể được tính cho tổng vốn, cũng có thể được xét riêng với từng loại vốn cụ thể. Sự biến động của từng loại vốn, đôi khi, trái chiều nhau và không giống chiều biến động của tổng vốn.
Chỉ tiêu này kết hợp với tỷ trọng vốn giúp sự đánh giá về khả năng huy động vốn của NHTM được sâu sắc và toàn diện hơn. Ngoài ra, ta còn có chỉ tiêu về tỷ lệ hoàn thành kế hoạch.Chỉ tiêu này cho ta biết trong năm NH đã hoàn thành bao nhiêu phần trăm kế hoạch đưa ra đầu năm? Nguồn vốn thực hiện Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch = Nguồn vốn theo kế hoạch SV: Lưu Khánh Vân CHƯƠNG 1 Khóa luận tốt nghiệp - 17 - Học Viện Ngân Hàng 1. Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu vốn hợp lý Một yếu tố quan trọng khác được đưa ra để đánh giá khả năng huy động vốn của NHTM là cơ cấu vốn. Việc phân tích cơ cấu vốn có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như: theo đối tượng, theo kỳ hạn, theo tính chất hay theo loại tiền,…Theo mỗi khía cạnh, những phân tích và đánh giá được đưa ra sẽ phản ánh một cách đầy đủ hơn hiệu quả huy động vốn của NH.
Ở đây, ta đưa ra ba tiêu chí đánh giá. Theo hình thức huy động NVHĐ của hình thức i Tỷ trọng của hình thức huy động i = ∑NVHĐ Tỷ lệ này cho ta biết trong 100 đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng là từ khu vực dân cư gửi vào? Bao nhiêu đồng là từ khu vực các tổ chức kinh tế? và còn lại là từ TCTDkhác.Cho thấy tầm quan trọng và sự đóng góp của NVHĐ từ dân cư trong tổng nguồn của NH. Đi sâu vào phân tích về NVHĐ từ KH cá nhân. Ta có: Số dư loại hình huy động i từ KH cá nhân Tỷ trọng loại hình huy động i = ∑NVHĐ từ KH cá nhân Tỷ trọng loại vốn nào cao phản ánh ưu thế của NH trong việc huy động loại vốn đó.
Mặt khác, nó cũng cho thấy sự chú trọng của NH vào những hình thức huy động nhất định. Qua đó, người ta có thể nhận thấy chính sách huy động vốn của NH và đánh giá được NH có đạt được mục tiêu trong trường hợp thực hiện thay đổi cơ cấu vốn hay không. SV: Lưu Khánh Vân CHƯƠNG 1 Khóa luận tốt nghiệp - 18 - Học Viện Ngân Hàng b. Theo loại tiền tệ huy động NVHĐ nội tệ( ngoại tệ) từ KH cá nhân Tỷ lệ NVHĐ nội tệ = ∑NVHĐ từ KH cá nhân ( ngoại tệ) từ KH cá nhân Việc xem xét cơ cấu theo loại tiền tệ huy động cho thấy NH có khả năng huy động nguồn nội tệ hay ngoại tệ mạnh hơn.
Thông thường, nguồn nội tệ bao giờ cũng có tỷ trọng lớn hơn nguồn huy động ngoại tệ.