mở đầu, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế phát triển. Để có thể thực hiện được vai trò vô cùng to lớn đó, các tập đoàn kinh tế nhà nước cần một lượng vốn khổng lồ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và phần lớn trong số đó có được là vốn vay từ hệ thống Ngân hàng thương mại. Cho vay là một trong những nghiệp vụ chính của Ngân hàng thương mại (NHTM), theo đó ngân hàng là bên cho vay, cấp cho khách hàng là bên đi vay một số vốn nhất định để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi đến 5 hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi.
Trong quá trình cho vay, ngân hàng có biện pháp kiểm soát được hoạt động của khách hàng, kiểm soát được nguồn thu để đảm bảo thu hồi vốn đầy đủ và đúng hạn. Ngoài ra, để tăng độ an toàn ngân hàng áp dụng các biện pháp bảo đảm (cầm cố, thế chấp.) đối với khách hàng. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền đế sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Mức cho vay, lãi suất cho vay và thời hạn cho vay là ba yếu tố cơ bản không thể thiếu khi xác định một khoản cho vay, cụ thể: Mức cho vay: ngân hàng dựa trên nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ và nguồn vốn của mình để quyết định cho vay.
Các ngân hàng thường cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng - là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, để cung ứng vốn phục vụ phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng. Lãi suất cho vay: là mức lãi suất được thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cơ sở phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong từng thời kỳ (không vượt quá 150% lãi suất cơ bản của NHNN). Ngoài ra, các ngân hàng cũng áp dụng lãi suất quá hạn đối với phần nợ gốc quá hạn tối đa là 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất cho vay (LSCV) là nguồn thu chủ yếu, ảnh hưởng ữực tiếp đến hiệu quả cho vay của ngân hàng đồng thời cũng là chi phí tài chính của doanh nghiệp.
Do vậy, lãi suất cho vay là nội dung quan trọng mà ngân hàng và khách hàng phải đàm phán để đạt được thỏa thuận trước khi thiết lập quan hệ tín dụng. Thời hạn cho vay: là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Việc xác 6 định thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ hoạt động của khách hàng, thời hạn này phải đủ để phương án, dự án thực hiện có nguồn thu trả nợ nhưng cũng không để quá dài dẫn đến tình trạng bị khách hàng chiếm dụng vốn sử dụng vào mục đích khác, ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Phân loại hoạt động cho vay Có rất nhiều tiêu thức để phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng, một số tiêu thức chính như sau: 1.1 Phân loại theo đổi tượng khách hàng Theo đối tượng khách hàng, cho vay được chia thành 04 loại như sau: Cho vay Chính p h ủ : Là hoạt động cho vay đối với Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, đồng thời phục vụ cho các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Ngân hàng cho Chính phủ vay thông qua việc mua: Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu kho bạc. Tùy vào từng thời kỳ mà ngân hàng sẽ thực hiện việc mua ữái phiếu, tín phiếu., nghiệp vụ này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế (thông qua việc giảm cung tiền), mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của bản thân các ngân hàng, sẽ đem lại một khoản thu tương lai cho ngân hàng, đồng thời cũng đảm bảo được tính an toàn của đồng vốn cho vay nhưng lãi suất được hưởng từ hoạt động cho vay Chính phủ thường thấp hơn so với các loại cho vay khác (cho vay các cá nhân, doanh nghiệp), do vậy nếu vốn cho vay Chính phủ nhiều phần nào cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của các ngân hàng. Cho vay các to chức tài chính khác như: Ngân hàng, Công ty tài chính, quỹ tín dụng.nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản, vốn sẽ được vận chuyển từ ngân hàng đang tạm thời thừa vốn sang bên tạm thời thiếu vốn. Theo thống kê ở Việt Nam các giao dịch phát sinh chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn (doanh số các giao dịch qua đêm chiếm đến 41% tổng doanh số giao dịch bằng VND), các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng thường rất ít.
Lãi suất áp dụng là lãi suất liên 7 ngân hàng, lãi suất này cũng thường thấp hơn lãi suất cho vay đối với các cá nhân, doanh nghiệp nhưng mức độ an toàn của khoản cho vay cao hơn. Cho vay doanh nghiệp: Là hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh, đầu tư. Cho vay đối với doanh nghiệp được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp. Mặc dù, hiện nay doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua nhiều kênh khách nhau (phát hành trái phiếu, cổ phiếu, chiếm dụng vốn của nhà cung cấp, vốn ứng trước của khách hàng.) nhưng nguồn vốn vay từ ngân hàng vẫn là nguồn vốn quan trọng, thường xuyên và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Cho vay cá nhân: Là hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhân nhằm phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh. Phân loại theo thời gian Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, ảnh hưởng đến mức độ an toàn và sinh lời của khoản vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, cho vay được phân thành 3 loại: Cho vay ngắn hạn: thời gian cho vay dưới 12 tháng, để phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh (SXKD) hàng năm của khách hàng. Cho vay trung hạn: thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng, tài trợ cho các tài sản cổ định như phương tiện vận tải, cây trồng, vật nuôi, trang thiết bị.
Cho vay dài hạn: thời gian cho vay trên 60 tháng, tài trợ cho các công trình xây dựng như nhà cửa, cầu đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu. Phân loại theo phương thức cho vay Theo phương thức cho vay, hoạt động cho vay của NHTM bao gồm: Cho vay thau chi: Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên sổ dư tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một 8 giới hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Thâu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô.
Hình thức thanh toán này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng ừong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời. Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn. Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay đổi với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, chỉ khi vào thời vụ kinh doanh hay mở rộng sản xuât khách hàng mới xin vay. v ố n của ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay vốn, ngân hàng và khách hàng lại thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức túi dụng được cấp trên cơ sở kê hoạch SXKD, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Đây là hình thức cho vay phù hợp đối với khách hàng có nhu cầu vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Cho vay luân chuyển: Là phương thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận tài trợ dựa trên kế hoạch lưu chuyển hàng hoá của khách hàng. Hình thức này phù hợp với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuât, kinh doanh có chu kỳ tiêu thụ sản phẩm ngắn. Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng, thủ tục vay chỉ thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
Cho vay trả góp: Là phương thức cho vay trong đó khách hàng trả gốc thành nhiêu lân trong thời hạn đã thoả thuận. Phương thức này thường được 9 áp dụng đối với vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua nhằm khuyến khích tiêu thụ hàng hoá. Cho vay gián tiếp: Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp, bên cạnh đó ngân hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp.
Đây là hình thức cho vay thông qua các tố chức trung gian. Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. , hình thức cho vay gián tiếp giúp tiết kiệm chi phí cho vay. Ngoài ra, còn một số phương thức cho vay khác như: Cho vay hợp vốn (đồng tài trợ), cho vay theo dự án.
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh và nhu cầu đầu tư: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh hay đầu tư thực hiện dự án. Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp. Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Đối tượng chủ yếu vay tiêu dùng là các cá nhân (vay để mua sắm tài sản).