Chương 1: Giới thiệu về khóa luận Chương 2 : Lý luận chung về hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng TMCP Á Châu - Chi nhánh Trần Khai Nguyên Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Trần Khai Nguyên SVTH: Hồ Thị Mỹ Hoa 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Thế Sao CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Hoạt động tín dụng là hoạt động lâu đời nhất và quan trọng nhất của NHTM. Hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro. “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”(Nguyễn Minh Kiều, 2009, tr.
NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN như bao thanh toán, tài trợ nhập khẩu, tài trợ xuất khẩu,… Tuy nhiên hoạt động cho vay là cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Dựa vào các tiêu thức khác nhau có thể chia hoạt động tín dụng của ngân hàng thành nhiều loại. Thông thường người ta phân loại tín dụng dựa trên tiêu chí thời hạn cấp tín dụng, theo đó các loại tín dụng bao gồm tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn. Theo khách hàng đi vay gồm khách hàng cá nhân và các tổ chức gồm doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo mục đích sử dụng của người đi vay, tín dụng lại được chia thành cho vay tiêu dùng, cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp, cho vay sản xuất nông nghiệp, cho vay mua bất động sản, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu… Ngoài ra còn có thể phân loại tín dụng dựa trên các tiêu thức khác nhau tùy theo từng ngân hàng, giúp thuận tiện trong việc quản lý tín dụng và định hướng phát triển cho mỗi thời kỳ. Thông thường khoản mục tín dụng chiếm 70% tổng tài sản. Do đó việc điều chỉnh tỷ trọng tín dụng liên quan tới mọi chiến lược của ngân hàng như dự trữ, cho vay, đầu tư… Các NHTM thường nghiêng về tín dụng ngắn hạn, bởi nghiệp vụ này ít rủi ro và đảm bảo tính thanh khoản. Bên cạnh đó NHTM thường mở rộng quy mô tín dụng, đẩy mạnh cho vay, gia tăng lợi nhuận kinh doanh bằng việc đổi mới công nghệ, tích cực tiếp thị tới khách hàng.
Tuy vậy, hoạt động tín dụng luôn chứa đựng nhiều rủi ro, do đó công tác phòng ngừa rủi ro luôn được ngân hàng đặc biệt chú trọng. SVTH: Hồ Thị Mỹ Hoa 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Thế Sao Hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng là một quá trình bao gồm nhiều bước, trong đó Ngân hàng và khách hàng phải làm việc thường xuyên với nhau vào trước, trong và sau khi đã cấp tín dụng. Việc quản lý và thực hiện mỗi giai đoạn cấp tín dụng ảnh hưởng trực tiếp kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Vì vậy để hạn chế rủi ro, các NHTM luôn chú trọng hoàn thiện quy trình tín dụng và chính sách tín dụng.2 HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại “Cho vay là một hình thức cấp tín dung, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”(Nguyễn Minh Kiều, 2009, tr.2 Đặc điểm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Thứ nhất, cho vay là sự cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin, điều này được hiểu là một người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay có hiệu quả, đúng mục đích và có khả năng trả được cả gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng. Chi khi ngân hàng tin tưởng vào khách hàng vay vốn thì hoạt động cho vay mới được thực hiện. Thứ hai, vốn được sử dụng một cách tạm thời nghĩa là có thời hạn. Việc xác định thời hạn dựa vào quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay tức là thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng đi vay.
Sự phù hợp giữa thời hạn vay và chu kỳ sản xuất kinh doanh tạo điều kiện để người vay có thể trả nợ cả gốc và lãi đúng thời hạn cho ngân hàng. Thứ ba, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị nên nguyên tắc là phải hoàn trả cả gốc và lãi, chỉ là chuyển quyền sử dụng chứ không phải quyền sở hữu. Sở dĩ có nguyên tắc này vì vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động của cá nhân, tổ chức có vốn tạm thời nhàn rỗi nên sau một thời gian ngân hàng phải trả lại cho người gửi. Mặt khác, ngân hàng phải mất chi phí để có được nguồn vốn đó nên ngoài phần vốn gốc người vay vốn phải trả lãi cho ngân hàng.3 Phân loại hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Căn cứ vào thời hạn cho vay: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn.
Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. SVTH: Hồ Thị Mỹ Hoa 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Thế Sao Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên.
Căn cứ vào phương pháp cho vay Cho vay trực tiếp: là loại cho vay mà người vay trực tiếp nhận tiền vay và trực tiếp trả nợ cho ngân hàng. Cho vay gián tiếp là loại cho vay được thực hiện thông qua người thứ ba như cho vay qua tổ hội, nhóm sản xuất, cho vay thông qua tổ chức tín dụng khác dưới hình thức đồng tài trợ. Căn cứ theo đối tượng cho vay: gồm cá nhân và tổ chức. Căn cứ vào bảo đảm tiền vay: Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay mà khi cho vay ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba.
Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay mà không có tài sản đảm bảo, thế chấp hoặc bão lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay: cho vay tiêu dùng, cho vay bất động sản, cho vay công nghiệp và thương mại. Căn cứ theo phương thức hoàn trả tiền vay: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn. Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.3 HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ a. Khái niệm SVTH: Hồ Thị Mỹ Hoa 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Thế Sao Tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau để xác định chính xác thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiện nay, người ta thường căn cứ vào các yếu tố bao gồm: tổng số vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản cố định, số lao động được sử dụng thường xuyên, giá trị bằng tiền của sản phẩm, dịch vụ hoặc lợi nhuận… Trên cơ sở đó, mỗi nước có một sự lựa chọn tiêu thức khác nhau để đưa ra doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Căn cứ Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về định nghĩa Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Khu vực Công nghiệp và xây dựng: Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng và số lao động từ trên 200 người đến 300 người. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống và số lao động từ trên 10 người đến 200 người. Khu vực Thương mại và dịch vụ: Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng và số lao động từ trên 50 người đến 100 người. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống và số lao động từ trên 10 người đến 50 người. Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, sản xuất là lĩnh vực chủ yếu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển quốc gia, trong đó DNVVN chiếm tỷ trọng lớn trong lĩnh vực này. Cùng với nông nghiệp và kinh tế nông thôn, DNVVN là những nhân tố bảo đảm sự ổn định và bền vững của nền kinh tế; tăng trưởng kinh tế; tạo việc làm cho người lao động; khai thác và tận dụng hiệu quả tiềm năng về vốn, tay nghề và những nguồn lực còn tiềm ẩn trong dân cư; phát triển các ngành nghề truyền thống; góp phần phân bố công nghiệp, bổ sung cho công nghiệp lớn, đảm bảo về cân bằng lớn trong kinh tế - xã hội – môi trường.
So với các doanh nghiệp lớn, DNVVN có những lợi thế như cơ động, linh hoạt, dễ dàng chuyển hướng sản xuất kinh doanh, nhạy bén với những thay đổi của thị trường, sẵn sàng đầu tư vào những lĩnh vực thử nghiệm đổi mới công nghệ. Cụ thể, DNVVN mang lại những lợi ích sau: Đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế SVTH: Hồ Thị Mỹ Hoa 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Thế Sao Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta, DNVVN có sức lan tỏa vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Số lượng DNVVN chiếm 98% tổng số doanh nghiệp thuộc hình thức doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể.