Chương 1: Cơ sở lý thuyết về Giá trị Thương hiệu 123doc 5 Chương 2: Phân tích thực trạng Giá trị thương hiệu TOKYO Deli của công ty TNHH Tân Việt Nhật. Chương 3: Gải pháp nâng cao Giá trị thương hiệu TOKYO Deli của công ty TNHH Tân Việt Nhật thông qua hoạt động Marketing. 123doc 6 CHUƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU 1. Thương hiệu: Xem xét về nguồn gốc xuất hiện của thuật ngữ “thương hiệu”, có lẽ được bắt nguồn từ những khung sắt nung in trên gia súc để đánh dấu sở hữu của người chủ với đàn gia súc.
Đây được xem là một dấu hiệu nhận biết để phân biệt gia súc của nhiều nhà chăn nuôi khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội đặc biệt là ngành thương mại dịch vụ, thuật ngữ này ngày càng được chú trọng hơn trong hoạt động kinh doanh. Từ nửa đầu thế kỷ 20, các quá trình quản lý hoạt động sáng tạo ra sản phẩm dịch vụ và tạo ra cảm nhận riêng bắt đầu hình thành. Do đó “thương hiệu” không còn đơn thuần là dấu hiệu nhận biết mà mang một ý nghĩa sâu rộng hơn.
Đã có rất nhiều nghiên cứu về thương hiệu và được vận dụng từ rất lâu trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển. Xung quanh thuật ngữ này có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung có thể chia thành hai nhóm quan điểm chính. Nhóm thứ nhất có thể xem là quan điểm truyền thống khi cho rằng thương hiệu chỉ là một phần của sản phẩm và được dùng làm yếu tố để phân biệt các sản phẩm khác. Điển hình cho quan điểm này là quan điểm của hiệp hội Marketing Hoa kỳ (AMA), thương hiệu được hiểu là “Thương hiệu là một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tổng thể các yếu tố kể trên nhằm xác định một sản phẩm hay một dịch vụ của một (hay một nhóm) sản phẩm hay dịch vụ của một (một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh”.
Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức”. Với hai quan điểm trên, thương hiệu được hiểu như một thành phần của sản phẩm và dùng để phân biệt sản phẩm nhà sản xuất này với sản phẩm cùng loại của nhà sản xuất khác. Quan điểm này vẫn còn nhiều doanh nghiệp Việt ứng dụng. Tuy nhiên, quan điểm này vẫn còn chưa thể hiện hết các thành phần cần thiết để cấu thành một thương hiệu mạnh và tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường.
123doc 7 Nhóm quan điểm thứ hai có nhiều sự khác biệt hơn vì nhóm này cho rằng thương hiệu không chỉ đơn thuần là một cái tên hay hình ảnh để phân biệt các sản phẩm mà nó còn mang một ý nghĩa rộng hơn. Thương hiệu thể hiện được thuộc tính của khách hàng mục tiêu của nó và tạo ra sự cảm nhận tốt cho khách hàng. Với thị trường ngày càng cạnh tranh, kiến thức của người tiêu dùng ngày càng cao, họ không chỉ đơn thuần mua một sản phẩm chỉ để đáp ứng các nhu cầu vật chất mà còn quan tâm đến cảm nhận. Hiện nay, khách hàng khi đưa ra quyết định không chỉ mua dựa vào sản phẩm mà mua dựa vào thương hiệu.
Đó là lý do rất nhiều nhà nghiên cứu đi theo quan điểm này. Một quan điểm nổi bật đó là giá tri thương ̣ hiê ̣u là tâ ̣p hơ ̣p giá tri ma ̣ ̀ khách hàng liên kế t với thương hiê ̣u phản ánh các khía ca ̣nh của nhâ ̣n thức thương hiê ̣u, liên tưởng thương hiê ̣u, chấ t lươ ̣ng cảm nhâ ̣n, lòng trung thành thương hiê ̣u và các giá tri ̣ tài sản khác Aaker (1991). Quan điểm thứ hai là quan điểm của Kapferer (1992): “Nhấn mạnh bản sắc thương hiệu như một cấu trúc tổng thể bao gồm sáu khía cạnh: văn hóa, tính cách, tự chiếu, phản chiếu, hình dáng và mối quan hệ”. Bên cạnh đó, theo Ambler và Styles (1996) cho rằng thương hiệu là tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà nó đòi hỏi.
Theo quan điểm này sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu. Bên cạnh đó các thành phần của tiếp thị hỗn hợp (sản phẩm, giá, phân phối và chiêu thị) cũng là các thành phần của một thương hiệu. Theo Kotler (2003): Thương hiệu được định nghĩa là: tên, thuật ngữ, ký hiệu hoặc kết hợp các yếu tố này, giúp nhận biết nhà sản xuất hay người bán .1: Hai quan điểm về sản phẩm và thương hiệu. 123doc 8 Nhìn chung các quan điểm đều nhấn mạnh việc tạo nên sự nhận biết như tên, biểu tượng, nhãn hiệu, bao bì để đễ dàng phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường.
Tuy nhiên, thương hiệu không chỉ tạo ra sự ấn tượng qua hình thức bên ngoài mà còn thể hiện cái bên trong. Chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng cảm nhận được là yếu quan trọng tạo nên hình ảnh thương hiệu. Ngoài ra, khách hàng có thể nhận biết một thương hiệu thông qua những câu khẩu hiệu hay nhạc hiệu. Đó là việc thương hiệu tạo ra nhận thức và tiềm năng của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp cung cấp.
Việc khách hàng tin tưởng sử dụng một sản phẩm, dịch vụ sẽ tạo ra sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu đó. Vì vậy thương hiệu sẽ dễ dàng do lường dưới góc độ khách hàng. Giá trị thương hiệu: 1. Khái niệm giá trị thương hiệu: Đầu những năm 80, thuâ ̣t ngữ “giá tri thương ̣ hiê ̣u” mới xuấ t hiê ̣n nhưng vẫn chưa có mô ̣t quan điể m nào thố ng nhấ t về nô ̣i dung cũng như cách đo lường giá tri thương ̣ hiê ̣u.
Tuy nhiên, giá trị thương hiệu nhanh chóng được rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như doanh nghiệp quan tâm. Giá trị thương hiệu dần trở nên phổ biến trong nhiều lĩnh vực không chỉ ở các nước phát triển mà còn cả ở các nước đang phát triển. Hện nay, giá trị thương hiệu cũng là yếu tố được nhiều doanh nghiệp chú trọng đến. Qua nhiều nghiên cứu hiê ̣n ta ̣i về giá tri ̣ thương hiê ̣u thì tồ n ta ̣i rấ t nhiề u quan điể m dưới nhiề u góc đô ̣ khác nhau và có hai quan điểm nổi bât là giá trị thương hiệu dưới góc độ tài chính, giá trị thương hiệu dưới góc độ người tiêu dùng.
Tuy nhiên góc độ tài chính không phù hợp với đề tài nghiên cứu này. Theo Aaker (1991) Giá tri ̣ thương hiê ̣u là “tập hợp tài sản gắn liền với một thương hiệu mà nó cộng thêm vào hoặc bớt ra từ giá trị được cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ cho công ty và khách hàng của công ty đó” tâ ̣p hơ ̣p giá tri ma ̣ ̀ khách hàng liên kế t với thương hiê ̣u phản ánh các khiá ca ̣nh của nhâ ̣n thức thương hiê ̣u, liên tưởng thương hiê ̣u, chấ t lươ ̣ng cảm nhâ ̣n, lòng trung thành thương hiê ̣u và các giá tri ta ̣ ̀ i sản khác. 123doc 9 Theo quan điểm trên giá trị thương hiệu cũng tác động đến quyết định mua của khách hàng đồng thời cũng gia tăng sự hài lòng với trải nghiệm sử dụng thương hiệu đó. Theo Keller (1993, trang 2) cho rằng “giá trị thương hiệu như sự ảnh hưởng có tính khác biệt về kiến thức thương hiệu trong phản hồi của người tiêu dùng đối với việc tiếp thị về thương hiệu, đồng thời kiến thức thương hiệu cao làm tăng khả năng chọn lựa thương hiệu”.
Giá trị thương hiệu theo quan điểm này được hình thành từ hai thành phần chính là nhận biết thương hiệu và ấn tượng thương hiệu Bên cạnh đó, Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang cũng nghiên cứu về giá trị thương hiệu. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang cho rằng giá trị thương hiệu bao gồm bốn thành phần chính đó là (1) Nhận biết thương hiệu, (2) Lòng ham muốn thương hiệu, (3) Chất lượng cảm nhận, (4) Lòng trung thành thương hiệu. Nguyễn Đình Thọ (2011, trang 13) cũng cho là “đánh giá thương hiệu theo quan điểm tài chính đóng góp vào việc đánh giá tài sản của một công ty, tuy nhiên nó không giúp nhiều cho nhà quản trị trong việc tận dụng và phát triển giá trị của thương hiệu. Hơn nữa, về mặt tiếp thị, giá trị tài chính của một thương hiệu là kết quả đánh giá của người tiêu dùng về giá trị của thương hiệu đó”.
Theo Tan và cộng sự (2012), phát triển nhà hàng theo hệ thống là loại hình cửa hàng dịch vụ có hai nét đặc trưng. Thứ nhất, tiến trình dịch vụ bắt buộc tương tác với khách hàng cao. Bên cạnh, đó chất lượng dịch vụ loại hình kinh doanh này không thể tách rời với vốn con người (nhân viên phục vụ, nhân viên chăm sóc khách hàng, đầu bếp,…). Nét đặc trưng còn lại là khả năng cung cấp dịch vụ theo yêu cầu khách hàng.
Việc này có nghĩa là khách hàng cần thêm các dịch vụ cộng thêm hay một sự quan tâm đặc biệt. Đó là lý do ngày nay khi nhiều nhà hàng lớn bắt đầu xây dựng chính sách khách hàng thân thiết nhằm tạo cho khách hàng cảm nhận mình là một khách đặc biệt tại nhà hàng. Kim và Kim (2005) cho rằng tên thương hiệu và những gì tên thương hiệu đó đại diện là tài sản quý giá nhất. Khi xây dựng và phát triển được thương hiệu sẽ tạo cho các đơn vị dịch vụ ăn uống một lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Một ví dụ điển 123doc 10 hình, người tiêu dùng đễ dàng nhận ra hình ảnh một ông già mỉm cười trong nền màu đỏ khi nhắc đến KFC. Mỗi ngành đều có những đặc thù riêng, Kim và Kim (2005) cũng đã kế thừa những giá trị thang đo của Aaker (1991), Keller (1993) để nghiên cứu và từ đó cũng đã xây dựng cho ngành dịch vụ nhà một thang đo riêng. Kết quả nghiên cứu cho rằng giá trị thương hiệu có 4 thành phần gồm nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, ấn tượng thương hiệu và lòng trung thành thương hiệu.Với quan điểm của Kim và Kim có bốn thành phần cấu thành thương nên giá trị thương hiệu (xem hình 1. Lòng trung thành Giá trị thương hiệu Nhận biết Chất lượng cảm nhận Ấn tượng Hình 1.2 : Mô hình giá trị thương hiệu Kim và Kim.