Chương I: Lý luận chung về nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại. Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm. Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm. Hoàng Quý NHTMD – K12 4 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA: 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa: 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới: Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau. Mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.
Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng, khả năng huy động vốn, rủi ro đầu tư, tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp, tổ chức quản lý doanh nghiệp. Nói đến DNNVV là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên độ lớn hay quy mô các doanh nghiệp. Việc phân loại DNNVV phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng quy định, giới hạn các tiêu thức phân loại quy mô doanh nghiệp. Tuy nhiên, không có tiêu thức thống nhất để phân loại DNNVV cho tất cả các nước vì điều kiện kinh tế - xã hội mỗi nước khác nhau và ngay trong một nước, sự phân loại cũng khác nhau tùy theo từng thời kỳ, từng ngành nghề, từng vùng lãnh thổ.
Việc xác định DNNVV của mỗi nước thường được cân nhắc đối với từng giai đoạn phát triển kinh tế, tình hình việc làm nói chung của các nước và tính chất nền kinh tế hiện hành của nước đó. Như vậy, xác định DNNVV không có tính cố định mà có xu hướng thay đổi theo tính chất hoạt động, mục đích của việc xác định và trình độ phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước vẫn có một số tiêu thức phân loại chung như: số lao động thường xuyên, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng,. Trong đó, tiêu thức về số lao động và vốn phản ánh quy mô theo các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức Hoàng Quý NHTMD – K12 5 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng doanh thu, lợi nhuận và giá trị gia tăng lại đánh giá quy mô theo hiệu quả đầu ra.
Mỗi tiêu thức có những mặt tích cực và ưu thế riêng. Như vậy, để phân loại DNNVV có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp hoặc là sự kết hợp của cả hai yếu tố đó. Để tiện cho việc so sánh quốc tế, một khái niệm về DNNVV dựa trên tiêu thức lao dộng được sử dụng có thể là thích hợp nhất, bởi vì nó không dễ dàng chịu ảnh hưởng của những khác biệt giữa các quốc gia về mức thu nhập cũng như những thay đổi trong giá trị của đồng tiền nội địa hiện hành qua các thời kỳ khác nhau. Ngoài tiêu thức lao động, tiêu thức tổng vốn đầu tư cũng được nhiều nước sử dụng.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam: Phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam cũng dựa chủ yếu trên hai tiêu thức là vốn và lao động. Trước đây, theo văn bản số 681/CP-KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ, DNNVV là các doanh nghiệp có vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng và số lao động thường xuyên không quá 200 người. Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV quy định: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên”.
Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có điều kiện thỏa mãn một trong hai điều kiện trên được coi là DNNVV. Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/6/2009 thay thế cho Nghị định 90/2001/NĐ-CP về việc trợ giúp phát triển DNNVV thì: DNNVV là cơ sở đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, Hoàng Quý NHTMD – K12 6 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng nhỏ, vừa và theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể: Bảng 1.1: Tiêu thức xác dịnh DNNVV theo quy định của Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động động vốn vốn I. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thƣơng Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng mại và dịch người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống vụ 200 người 100 tỷ đồng 300 người (Nguồn: Điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV) 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa: DNNVV cũng là một tổ chức kinh tế, ngoài những đặc trưng vốn có của một doanh nghiệp thì nó còn có những đặc điêm riêng nổi bật, đó là: quy mô nhỏ, vốn đầu tư không lớn, công nghệ ít hiện đại, lao động ít, trình độ quản lý thấp, năng lực cạnh tranh yếu… Những đặc điểm đó là hạn chế song cũng là một lợi thế của DNNVV. Hoàng Quý NHTMD – K12 7 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 1. Điểm mạnh của doanh nghiệp nhỏ và vừa: - Hình thức pháp lý và lĩnh vực hoạt động phong phú, đa dạng: DNNVV tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông lâm ngư nghiệp,.
và hoạt động dưới mọi hình thức: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể,. - Khả năng thu hồi vốn nhanh: DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về vốn, lao động, mô hình quản lý đơn giản, chi phí quản lý, chi phí đào tạo không quá lớn và rất linh hoạt trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân. Do quy mô nhỏ, vốn đầu tư ban đầu thấp, nên các doanh nghiệp có khả năng thu hồi vốn nhanh, hạn chế được tình trạng ứ đọng vốn trong quá trình tái sản xuất. DNNVV còn là phương thức phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế.
- Tính năng động và linh hoạt cao: DNNVV có khả năng đầu tư đa dạng và linh hoạt. Điều này được thể hiện ở việc sử dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị, có thể dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị với chi phí không quá lớn, kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại. Mặc khác, lĩnh vực SXKD của các DNNVV thường hướng tới phục vụ trực tiếp đời sống xã hội chủ yếu là đầu tư vào các sản phẩm có sức mua cao, khả năng phản ứng linh hoạt với thị trường, chuyển đổi nhanh mặt hàng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. -Bộ máy tổ chức sản xuất và quản lý gọn nhẹ, đơn giản và hiệu quả: Do quy mô nhỏ và lượng lao động không nhiều nên việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý của DNNVV gọn nhẹ, đơn giản.
Không có sự phân tầng giữa các phòng ban mang tính rõ rệt và chuyên môn hóa chưa cao. Tuy nhiên đây cũng là lợi thế của DNNVV do chi phí hoạt động tổ chức, quản lý tương đối thấp, thời gian đưa ra quyết định và truyền đạt Hoàng Quý NHTMD – K12 8 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng ý tưởng từ lãnh đạo tới công nhân viên nhanh chóng và hiệu quả, không phải qua nhiều khâu trung gian. Hạn chế của DNNVV: - Năng lực tài chính và năng lực quản lý còn yếu: Các DNNVV hiện nay chưa thực sự chú trọng đến tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. Lý do trước hết là do trình độ quản lý của ban quản trị, đồng thời ban quản trị cũng chưa quan tâm đúng mực tới vai trò của hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Thông thường các DNNVV đầu tư rất lớn về sản xuất, marketing, bán hàng,. nhưng lại lơ là vế vấn đề tài chính hoặc trao toàn bộ cho bộ phận kế toán. Hầu như trong các DNNVV hiện nay của Việt Nam thường thiếu vị trí Giám đốc tài chính và mọi hoạt động tài chính do kế toán trường đảm nhiệm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến đánh giá tài chính, quyết định kinh doanh cũng như chiến lược phát triển của công ty.
- Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp: Nguồn vốn chủ yếu của các DNNVV thường là vốn tự có hoặc vốn vay, trong đó số lượng vốn vay được từ ngân hàng hiện nay vẫn còn rất thấp so với nhu cầu của doanh nghiệp. Điều này có thể được lý giải do nhiều nguyên nhân nhưng nhìn chung do năng lực tài chính của doanh nghiệp chưa cao, tài sản thế chấp không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng. Điều này sẽ dẫn đến doanh nghiệp khó có khả năng huy động vốn do đó sẽ thiếu mặt bằng SXKD, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ có giá trị cao và khó khăn cho mở rộng thị trường.