Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.Khái niệm nguồn nhân lực. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng. Nguồn nhân lực theo định nghĩa hẹp và để có thể lượng hóa được trong công tác kế hoạch hóa ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động trong độ tuổi theo quy định của bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi). Trên cơ sở đó một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ.
Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm ( người thất nghiệp ). Lao động dự trữ gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực của một doanh nghiệp được hiểu là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ các cá nhân đang làm việc trong doanh nghiệp. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Những con người trong doanh nghiệp có những năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, tham gia các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ, hành vi của họ có thể 3 Nguyễn Thị Thu Huyền_ K44/3101 Luan van Luận văn tốt nghiệp thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh.Vai trò của nguồn nhân lực đối với doanh nghiệp. Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Trong các cách để tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thì lợi thế thông qua con người được xem là yếu tố căn bản.
Con người được xem là yếu tố căn bản và có tính quyết định của mọi thời đại. Nguồn lực từ con người là yếu tố bền vững và khó thay đổi nhất trong mọi tổ chức. Năng lực thông qua con người ở các doanh nghiệp được hiểu như là khả năng của đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp. Khả năng này được thể hiện trên các khía cạnh ở hình sau : Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công của doanh nghiệp công ty trên các khía cạnh chất lượng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng đổi mới, kỹ năng trong công việc cụ thể và năng suất của đội ngũ nhân viên.
Đây là các yếu tố then chốt đem lại sự thành công cho mọi tổ chức. Tuy vậy không phải tổ chức nào cũng thành công trên tất cả các khía cạnh trên về nguồn nhân lực và thường người ta chọn các trọng tâm phù hợp với hoàn cảnh và chiến lược của doanh nghiệp.Ví dụ có doanh nghiệp coi trọng các yếu tố về năng suất, kỹ năng có tinh chuyên nghiệp cũng có doanh nghiệp đề cao chất lượng dịch vụ và khả năng đổi mới của đội ngũ nhân viên. Năng lực thông qua yếu tố con người thường mang tính chất bền vững vì nó không thể được xác lập trong một thời gian ngắn. Nó liên quan đến văn hóa của tổ chức.
Đây chính là các chuẩn mực bất thành văn, trở thành nếp sống và ứng xử của các thành viên trong tổ chức.Văn hóa còn đề cập tới vấn đề mà các nhân viên trong doanh nghiệp đề cao, suy tôn và cả cách thức họ chia sẻ thông tin với nhau trong tổ chức. 4 Nguyễn Thị Thu Huyền_ K44/3101 Luan van Luận văn tốt nghiệp Jeff Alef, phó tổng giám đốc kiêm giám đốc một nguồn nhân lực tại một ngân hàng đệ nhất Chicago phát biểu : “Đã có một thời, nguồn vốn được sử dụng như một lợi thế cạnh tranh, nhưng ngày nay khả năng huy động vốn với số lượng lớn là điều dễ dàng. Cũng có lúc công nghệ cao tạo cho bạn một lợi thế cạnh tranh, thậm chí việc này cũng dễ dàng đạt được trong thời đại toàn cầu hóa và quốc tế hóa. Và cũng có lúc, cụ thể là trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tài chính, khi mà chu kỳ bán rã của sản phẩm rất dài.Giờ đây bạn không thể duy trì lợi thế cạnh tranh lâu dài dựa trên một loại sản phẩm hoặc dịch vụ mà bạn cống hiến.
Lợi thế duy nhất và lâu dài là con người.” Nhiều học giả cũng như các nhà quản trị cũng thừa nhận rằng những thay đổi trong môi trường kinh doanh hiện đại đã và đang tạo ra những thách thách chưa từng có so với những gì mà trước đây các tổ chức gặp phải. Trong thời đại ngày nay mỗi một thay đổi trong môi trường kinh doanh đã làm tăng thêm áp lực cho các công ty phải thay đổi chủ động sáng tạo với công nghệ mới, sản phẩm mới, dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Chính vì vậy đã đặt ra yêu cầu cho các tổ chức phải thu hút, đào tạo và duy trì lực lượng nhân viên với chất lượng cao nhất. Theo thời gian và bất chấp sự thay đổi của môi trường, chính con người trong tổ chức phải tự tạo ra khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh.
Như Jeff Alef đã phát biểu, trong quá khứ lợi thế cạnh tranh lâu dài có thể đạt được thông qua việc tìm điều tốt hơn, tiếp nhận các nguồn tài chính rẻ hơn, hoặc Marketing sản phẩm mới hoặc tìm ra các công nghệ chưa từng được biết đến. Trong khi việc tiếp cận các nguồn vốn rẻ hơn, sản phẩm chất lượng cao hơn, công nghệ mới vẫn còn là những bộ phận quan trọng của lợi thế cạnh tranh ở bất kỳ tổ chức nào thì từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước trở đi, sự biến động của môi trường kinh doanh đã đặt ra yêu cầu nhiều hơn nữa, tập trung vào yếu tố con người trong tổ chức. Như vậy, nguồn nhân lực là năng lực cốt lõi của doanh nghiệp, tạo nên sự khác biệt và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn phát triển 5 Nguyễn Thị Thu Huyền_ K44/3101 Luan van Luận văn tốt nghiệp bền vững thì cần xem trọng yếu tố con người.
Chính nguồn lực con người sẽ xây dựng lên uy tín và hình ảnh doanh nghiệp trong mắt các đối tác và trong mắt khách hàng.Chất lượng nguồn nhân lực. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ … của người lao động. Trong các yếu tố đó thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng nhất để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Các nhân tố quản lý ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực.Chiến lược nguồn nhân lực. Cho đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về chiến lược nguồn nhân lực. Theo Mile & Snow (1984) cho rằng chiến lược nguồn nhân lực là “một hệ thống các biện pháp về nhân sự để tạo ra một nguồn nhân lực có thể đáp ứng được các nhu cầu của chiến lược kinh doanh”. Còn Write & Macmahan (1992) lại cho rằng chiến lược nguồn nhân lực là “các đặc tính của các hành động liên quan tới nhân sự nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu kinh doanh”.
Hai cách hiểu này cho thấy chiến lược nguồn nhân lực là một nhiệm vụ “tiên phong”, trong đó các hoạt động nhân sự có thể giúp doanh nghiệp hình thành các chiến lược kinh doanh. Định nghĩa do Guest (1987) và Boxan & Dawling (1990) giới thiệu có tính toàn diện hơn, thể hiện rõ ràng hơn mối quan hệ giữa quản trị nguồn nhân lực và chiến lược kinh doanh. Họ cho rằng chiến lược nguồn nhân lực là “sự tích hợp các chính sách và hành động quản trị nhân lực với chiến lược kinh doanh. Sự tích hợp này được thể hiện ở ba khía cạnh: (1) gắn kết các chính sách nhân sự và chiến lược với nhau, (2) xây dựng các chính sách bổ sung cho nhau đồng thời khuyến khích sự 6 Nguyễn Thị Thu Huyền_ K44/3101 Luan van Luận văn tốt nghiệp tận tâm, linh hoạt và chất lượng công việc của người lao động và (3 ) quốc tế hóa vai trò của các phụ trách khu vực.
Song dù đứng trên khía cạnh nào chúng ta cũng có thể hiểu rằng chiến lược nguồn nhân lực là quá trình đánh giá xác định nhu cầu nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc của tổ chức và xây dựng các kế hoạch lao động để đáp ứng các nhu cầu đó. Chiến lược nguồn nhân lực gồm : ước tính xem cần bao nhiêu người có trình độ lành nghề thích ứng để thực hiện nhiệm vụ đã đặt ra ( cầu nhân lực ), ước tính số người sẽ làm việc cho tổ chức ( cung nhân lực ), lựa chọn các giải pháp để cân đối cung và cầu nhân lực tại thời điểm thích ứng trong tương lai. Vai trò của lập chiến lược nguồn nhân lực. Nhân lực luôn có tầm quan trọng đối với doanh nghiệp.Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp chỉ chú trọng tới việc phát triển tới việc phát triển nhân lực mà không gắn kết nó với những nguyên tắc và mục tiêu chung của doanh nghiệp thì mọi sự cố gắng nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của người lao động sẽ trở nên lãng phí vô ích.
Chiến lược nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp xây dựng các mục tiêu, chiến lược và chính sách nhân lực phù hợp với mục tiêu của mình. Những điều kiện này tạo điều kiện phát triển những điều kiện và kỹ năng cần thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu mà mục tiêu chung của doanh nghiệp đã đề ra. Một cách tổng quát vai trò của chiến lược nguồn nhân lực có thể thể hiên trên các khía cạnh sau : Thứ nhất, chiến lược nguồn nhân lực giữ vai trò trung tâm trong các chiến lược của tổ chức. Bất kỳ một tổ chức nào muốn đứng vững và tồn tại trong cạnh tranh thì cần thiết phải tiến hành lập chiến lược nguồn nhân lực.