Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG 1. Tổng quan về giáo dục kỹ năng sống 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ KNS đã được các nhà tâm lý học thực hành đưa ra và coi đó như một trong những KN xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân. Vấn đề GDKNS được đặt nền móng, được quan tâm tìm hiểu từ thập niên 80 của thế kỷ XX.
Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phương Tây, việc nghiên cứu KNS đã được nhiều tổ chức quan tâm, tìm hiểu từ rất sớm. Từ trước những năm 1970 của thế kỷ XX trong các sách tâm lý học của Liên Xô cũ đã đề cập đến thuật ngữ KN [9, tr. Bắt đầu từ năm 1979, Gilbert J. Botvin, giáo sư tiến sĩ người Mỹ về tâm lý học, đã công bố một chương trình GDKNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên, nhằm giúp xây dựng cho người học có những khả năng từ chối những lời mời, rủ rê sử dụng chất gây nghiện bằng cách nâng cao sự tự khẳng định bản thân, KN ra quyết định và tư duy phê phán.
Chương trình gồm các tài liệu hướng dẫn GV, HS và băng casset thư giãn được triển khai rộng rãi trong các trường học khác, từ trường công lập đến các trung tâm tạm giam thanh thiếu niên trên toàn nước Mỹ và đã thu được kết quả ấn tượng, cho đến nay vẫn được đánh giá rất cao [24]. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, các tổ chức Liên Hiệp Quốc như WHO, UNICEF, UNESCO đã chung sức xây dựng chương trình GDKNS cho thanh thiếu niên. Bởi những thử thách mà những trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là những KN đọc, viết và tính toán tốt nhất [6]. Tại các nước phát triển như Mỹ, Anh… GDKNS được đặt biệt coi trọng và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị cao như: - Mô hình tác động của việc GDKNS do Birell Weisen và Orley đưa ra năm 1994 [23] Life Skills Training: Promoting Health and Personal Development: Teacher’s Manual (Huấn luyện KNS: Tăng cường sức khỏe và phát triển cá nhân: Cẩm nang cho giáo viên) của giáo sư G.
6 Luan van - Skills for the Primary School Child: Promoting the Protection of Children (KN cho HS tiểu học: Đẩy mạnh sự Bảo vệ trẻ em) do tổ chức TACADE của Anh đề ra. Trên cơ sở tiêu chuẩn hóa việc GD đào tạo phát triển, và nâng cao hiệu quả hoạt động của người lao động, Bộ lao động Mỹ đã tài trợ cho Hiệp hội những người làm công tác đào tạo và phát triển Mỹ (American Society for Training and Development – ASTD) thực hiện một nghiên cứu về những kỹ năng mà các tổ chức đòi hỏi [25]. Đồng thời Hội đồng thư ký về những KN cần thiết phải đạt được (SCANS) cũng thực hiện một nghiên cứu về vấn đề này. Trên cơ sở hai nghiên cứu tầm cỡ này đã hình thành mô hình về những KN mà các tổ chức mong muốn (Employability skills).
Những KN mà các tổ chức mong muốn là các nhóm KN cốt lõi có thể sử dụng ở những môi trường và điều kiện khác nhau mà các KN này thể hiện những chức năng cốt lõi và những kiến thức, thái độ, và kỹ năng “mềm” được đòi hỏi bởi nơi làm việc của thế kỷ 21. Những KN này là cần thiết cho sự thành công nghề nghiệp tại tất cả các cấp độ làm việc và cho sự thành công tại tất cả các cấp độ GD khác nhau. Mô hình này thể hiện 16 kỹ năng khác nhau [27], được phân thành 6 nhóm: - Những kỹ năng về năng lực cơ bản: đọc, viết, tính toán - Những kỹ năng truyền đạt: nói, nghe - Những kỹ năng về năng lực thích ứng: giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo - Những kỹ năng phát triển: tự trọng, động viên và xác định mục tiêu, hoạch định sự nghiệp - Những kỹ năng về hiệu quả của nhóm: quan hệ qua lại giữa các cá nhân, làm việc đồng đội, đàm phán - Những kỹ năng tác động, ảnh hưởng: hiểu biết văn hóa tổ chức, lãnh đạo tập thể Tại Úc: Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia - BCA) và phòng thương mại và công nghiệp (The Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ giáo dục đào tạo và Khoa học (The Department of Education, Science and Training - DEST) và Hội đồng GD quốc gia 7 Luan van (The Australian National Training Authority - ANTA) đã xuất bản cuốn “KN hành nghề cho tương lai” năm 2002. Cuốn sách cho thấy các KN và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có.
KN hành nghề (employability skills) là các KN cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Các KN hành nghề bao gồm 8 KN, trong số đó có 5 KN giống của Mỹ và bổ sung thêm 3 KN cụ thể như sau: - KN sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills) - KN lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organizing skills) - KN công nghệ (Technology skills) Tại Canada: Chính phủ Canada, Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và KN Canada (HRSDC) phụ trách về việc phát triển KN cho người lao động. Bộ cũng đã có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các KN cần thiết cho người lao động. Tổ chức phi lợi nhuận của Canada, chuyên nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các KN hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills 2000 +) bao gồm một số KN giống Mỹ và Úc và chú trọng thêm những KN như: - KN tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes and behaviours skills) - KN thích ứng (Adaptability skills) - KN nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán học (Science, technology and mathematics skills) Tại các nước đang phát triển chủ yếu là tại khu vực Mỹ Latinh, châu Phi và châu Á, với sự tài trợ của các tổ chức Liên Hiệp Quốc, chương trình GDKNS đã được phát triển rộng khắp ở các nước từ Nam Á (Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka), Trung Á (Mông Cổ) đến Đông Nam Á.
Và tiếp cận được với thanh thiếu niên, thông qua mạng lưới toàn cầu, các cuộc hội thảo, cung cấp tư liệu, vật liệu cho các nước thành viên và phối hợp chặt chẽ với nhau. Tại khu vực Đông Nam Á các chương trình GDKNS được triển khai chủ yếu vào 5 năm cuối của thế kỷ XX.Ở Singapore, chính phủ Singapore đã thành lập Cục 8 Luan van phát triển lao động WDA (Workfore Development Agency), WDA đã thiết lập hệ thống các KN hành nghề ESS (Singapore Employability Skills Systems) [31]. bao gồm những KN thiết yếu như: - KN học tập suốt đời (Lifelong learning) - KN công sở và tính toán (Workplace literacy and numeracy) - KN tư duy mở toàn cầu (Global mindset) - KN an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe (Health and workplace safety) Tại Thái Lan, năm 1996, GDKNS được đưa ra cùng chương trình ngăn chặn AIDS, được thực hiện ở cả ba bậc học phổ thông, chủ yếu là qua các hoạt động ngoại khóa, hiện nay được mở rộng thêm các lĩnh vực: sức khỏe sinh sản, thuốc lá và ma túy, vấn đề giới … và trở thành nội dung bắt buộc giảng dạy trong chương trình của nhà trường. Tại Lào bắt đầu từ năm 1997, đầu tiên nội dung GDKNS có liên quan đến GD phòng tránh HIV/AIDS được lồng ghép vào chương trình GD chính quy, không chính quy và các trường đào tạo giáo viên.
Từ năm 1997- 2002 GDKNS được giảng dạy rộng rãi trong nhà trường từ bậc Tiểu học đến Trung học phổ thông [2]. Ở Campuchia, GDKNS trong nhà trường được thực hiện nhằm gắn kết GD với nhu cầu xã hội. KNS được xem là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống nhằm phát triển đất nước. KN tìm việc, kiếm sống của bản thân, gia đình là những KN quan trọng, cần thiết của giới trẻ và người trưởng thành.
KNS được thực hiện trong đào tạo chính quy ở nhà trường với phương thức tích hợp vào bài học của các môn học cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12, các KN tiền nghề nghiệp từ lớp 6 đến lớp 12 được tổ chức dạy và thực hành trong các tiểu ban công nghệ [2]. Ở Malaysia, GDKNS do bộ GD và các cơ quan khác thực hiện. Bộ GD coi KNS là môn KN của cuộc sống (living skills).Trong chương trình GD ở Malaysia môn này được dạy như là một môn học ở trường tiểu học từ lớp 4,5,6, ở THCS từ lớp 7,8,9 và còn đan xen vào các môn học khác [2, tr. 9 Luan van Như vậy, KNS đã được nghiên cứu, tích hợp vào GD thông qua chương trình GDKNS, được triển khai rộng rãi trên thế giới, cả trong GD chính quy và không chính quy và ngày càng phát triển mạnh mẽ, các nước trên thế giới đã rất chú trọng đến các KNS dành cho người lao động.
Các nghiên cứu trong nước Từ năm 1996, thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) (1996). GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường. Quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN kiên định, KN đặt mục tiêu … do các chuyên gia Úc tập huấn. Tham gia chương trình này đầu tiên gồm có ngành GD và Hội chữ thập đỏ.
Sang giai đoạn 2, chương trình được mang tên “GD sống khỏe mạnh và KNS” đã làm rõ hơn khái niệm về KNS. Ngoài ngành GD, đối tác tham gia còn có 2 tổ chức xã hội chính trị là Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam [2, tr. Khái niệm KNS chỉ thực sự được hiểu thấu đáo sau hội thảo “Chất lượng GD và KNS” do UNESCO tài trợ được tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó, những người làm công tác GD ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về KNS và trách nhiệm phải GDKNS cho người học.
KNS được tiếp cận dựa trên bốn trụ cột của GD bao gồm: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning to do), Học để làm người (Learning to be) và Học để cùng chung sống (Learning to live together) [29].