Chương 1: Giới thiệu tổng quan về dé tài. Trong chương này, tác giả đưa ra được lý do hình thành nên đề tài và mục tiêu mà đề tài muốn đạt được. Đồng thời đưa các các phương pháp được thực hiện trong bài, cũng như phạm vi thực hiện và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Chương này đưa ra những lý thuyết có liên quan đến khách hàng, chất lượng dịch vụ và chăm sóc khách hàng. Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động CSKH tại Trung tâm Anh Ngữ Wall Street English. Đầu tiên, tác giả sẽ giới thiệu sơ lược về Trung tâm Wall Street English. Sau đó đi vào phân tích thực trạng hoạt động CSKH tại Wall Street English.
Từ đó, xác định được các nguyên nhân còn hạn chế trong dịch vụ CSKH tại trung tâm. Chương 4: Đề xuất giải pháp và kế hoạch triển khai. Trong chương này, tác giả sẽ phân tích các nguyên nhân gây ra ton tại và dé xuất một số giải pháp dé hoàn thiện chất lượng dịch vụ CSKH tại trung tâm. Đồng thời đưa ra kế hoạc triển khai các giải pháp đó.
Chương 35: Kết luận và kiến nghị. Nhận xét những mặt còn han chế và có các kiến nghị lên lãnh đạo của công ty, nhằm giúp cho hoạt động chăm sóc khách hàng của công ty ngày càng hoàn thiện hơn. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET 2. Khai niệm Khách hang là người mua hoặc có sự quan tâm một loại hang hóa dịch vu nào đó của doanh nghiệp mà sự quan tâm nảy có thể dẫn đến hành động mua.
Khách hàng không nhất thiết là những người mua sản phẩm của doanh nghiệp. Họ có thể là các nhà đầu tư, cơ quan quản lý và cả những người làm việc trong doanh nghiệp. Họ là những người chúng ta phục vụ dù họ có trả tiền cho dịch vụ của chúng ta hay không. Vai trò của khách hàng Khách hàng là những người mua hàng, là người tạo ra nguồn thu cho doanh nghiệp.
Ngoài việc mua hàng hóa và sử dụng dịch vụ của công ty, khách hàng còn đóng vai trò là người tuyên truyền thông tin, mỗi khách hang là người tuyên truyền về dịch vụ của doanh nghiệp trong mọi lúc. KHÁI NIỆM DỊCH VỤ Kotler (2003) cho rang: “Dịch vụ là mọi hành động va kết quả mà một bên có thé cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình va không dẫn đến quyền sở hữu một cái g. San phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” (tr.Nguyễn Van Thanh (2008) cho rang: “Dịch vu là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bồ sung giá trị cho phần vật chất và lam đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá. mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” (tr.
Như vậy có thé thay dich vu là hoạt động sáng tạo cua con người, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong x. hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyên. QUAN LY CHAT LƯỢNG VÀ CHAT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG 2. Lý thuyết về quản lý chất lượng 2.
Chat lượng Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đã đưa ra định nghĩa sau: “chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu câu của khách hàng và các bên liên quan”. Từ định nghĩa trên, ta có thê rút ra một sô đặc điềm sau của khái niệm về chat lượng: e Chất lượng được đo lường bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nhu cau luôn biến động nên chất lượng cũng phải luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng. e Khi đánh gia chất lượng của mọi đối tượng thì phải xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cau cụ thé.
e Chất lượng không chỉ là thuộc tính của một hàng hóa mà là cả một hệ thống, một quá trình. Quản lý chất lượng Quản ly chất lượng là các hoạt động có phối hợp dé định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng. Việc định hướng và kiểm soát vé chất lượng nói chung bao gém lập chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiễn chất lượng. Quản ly chất lượng hiện đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chi trong sản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình tô chức, từ quy mô lớn đến quy mo nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không.
Quản lý chất lượng đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng, theo triết lý "làm việc đúng" và "làm đúng việc", "làm đúng ngay từ đầu" và "làm đúng tại mọi thời điểm". Chất lượng dịch vụ khách hàng Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã có gắng định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ. Nhưng chung quy thì chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ ve kêt quả của dịch vụ đó. Một trong những đặc điểm cơ bản của chất lượng dịch vụ là khó đo lường, khó xác định được tiêu chuẩn chất lượng, nó phụ thuộc vào yếu tô con người là chủ yếu.
Chất lượng dịch vụ trước hết là chất lượng con người. Sản phẩm dịch vụ là vô hình, chất lượng được xác định bởi khách hàng, chứ không phải do người cung ứng. Khách hàng đánh giá chất lượng một dịch vụ được cung ứng thông qua việc đánh giá nhân viên phục vụ của công ty va qua cảm giác chu quan của mình. Trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều khoảng cách trong dich vụ khi công ty không hiểu hết hoặc không đáp ứng được các mong muốn của khách hàng.
Do đó, để có thể đo lường chất lượng dịch vụ bởi những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm dịch vu, ta có thé dựa vào mô hình chất lượng dịch vụ Parasuraman (1991) như sau: | Thông tin truyền miệng | 10 Khoảng cách 1 (GAP 1): xuất hiện khi có sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ và nhà quản trị cảm nhận về kỳ vọng này của khách hàng. Điểm cơ bản của sự khác biệt nảy là do công ty dịch vụ không hiểu biết hết những đặc điểm nào tạo nên chất lượng của dịch vụ mình cũng như cách thức chuyển giao chúng cho khách hàng đề thỏa mãn nhu câu của họ. Khoảng cach 2 (GAP 2): xuất hiện khi công ty dich vụ gặp khó khăn trong việc chuyển đôi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính dịch vụ. Khoảng cách 3 (GAP 3): xuất hiện khi nhân viên dịch vụ không chuyển giao dịch vụ cho khách hàng theo những tiêu chí đã được xác định.
Khoảng cách 4 (GAP 4): phương tiện quảng cáo và thông tin cũng tác động vào kỳ vọng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo, khuyến mãi có thể làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm chất lượng mà khách hàng cảm nhận được khi chúng không được thực hiện theo đúng những gì đã hứa hẹn. Khoảng cách 5 (GAP 5): xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng bởi khách hàng và chất lượng mà họ cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này, một khi khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất lượng họ cảm nhận được khi tiêu dùng một dịch vụ thì chất lượng của dịch vụ được xem là hoàn hảo.
CHAM SOC KHACH HANG 2. Khái niệm Theo nghĩa tổng quát nhất, chăm sóc khách hàng là tat cả những gi cần thiết mà doanh nghiệp phải làm để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng, tức là phục vụ khách hàng theo cách mà họ mong muốn được phục vụ và làm những việc cần thiết để gitr các khách hàng mình đang có. 11 Chăm sóc khách hàng luôn luôn là một yêu cau cần thiết trong công việc kinh doanh của các doanh nghiệp. Khách hàng ngày nay là những con người đây đòi hỏi, muốn được đối xử nhã nhặn, được tôn trọng và được nghe những lời cảm ơn chân thành.
Chăm sóc khách hang bao gồm toàn bộ những công việc phục vu cần thiết nhằm duy trì được những khách hàng hiện đang có của doanh nghiệp. Công việc phục vụ này góp phần tạo nên tong số giá trị cung ứng cho khách hàng. Y nghĩa của việc chăm sóc khách hang Khách hàng là nguồn sống của bất kỳ doanh nghiệp nào. Chính vì thế, chăm sóc khách hàng trở thành một yếu tố sống còn và đòi hỏi của rất nhiều đầu tư về công sức và tiền bạc.
Chăm sóc khách hàng không chỉ đơn giản là bán cho khách hàng sản phẩm hay dịch vụ, mà nó còn đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra sự hài lòng tuyệt đối cho khách hàng đối với sản phâm dịch vụ của họ. Như vậy, chăm sóc khách hàng là việc hướng các hoạt động của doanh nghiệp vào khách hàng. Do là quá trình phân tích, tìm hiểu và giải quyết mối quan hệ giữa tổ chức dịch vu và khách hàng mục tiêu. Vai trò của chăm sóc khách hang đối với doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Hồ Nhân (2006) cho rang: Dịch vụ chăm sóc khách hàng ngày cảng có vai trò quan trọng hơn trong hệ thông chiến lược marketing và trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Cùng với chất lượng của dịch vụ và uy tín hình ảnh của doanh nghiệp, dịch vụ chăm sóc khách hàng sẽ làm cho khách hàng thỏa mãn và hài lòng khi sử dụng dịch vụ. Qua đó họ sẽ tin tưởng vào doanh nghiệp, chất lượng dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp và trở thành một khách hàng của doanh nghiệp cùng với những người bạn do họ giới thiệu. Một lời giới thiệu của khách hàng có giá trị hơn rất nhiều lần so với quảng cáo của doanh nghiệp. Và vô tình họ trở thành công cụ quảng cáo đắc lực cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp giảm được phan nao chi phí quảng cáo của mình.