CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GIAO THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm xây dựng. Khái niệm sản phẩm xây dựng: Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Sản phẩm xây dựng bao gồm: công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và các công trình khác (Theo Luật xây dựng). Công trình xây dựng được phân thành các nhóm có đặc điểm kỹ thuật tương tự nhau, gồm: công trình dân dụng; công trình công nghiệp; công trình thủy lợi; công trình giao thông; công trình hạ tầng kỹ thuật… Chất lượng sản phẩm xây dựng (hay công trình xây dựng): Theo quan niệm hiện đại, CLCT xây dựng, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng, CLCT xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: Công năng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo về thời gian phục vụ của công trình.
Theo cách nhìn rộng hơn, CLCT xây dựng được hiểu không chỉ từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà bao gồm cả quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề liên quan khác. Một số vấn đề cơ bản liên quan đến CLCT xây dựng là: CLCT xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về XDCT, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công,. cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng, bảo hành và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ. CLCT xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng dự án ĐTXD công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế.
6 CLCT tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình. Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị đưa vào công trình mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các HĐXD. Chất lượng luôn gắn với vấn đề an toàn công trình. An toàn không chỉ là trong khâu khai thác sử dụng mà phải đảm bảo an toàn trong giai đoạn thi công xây dựng đối với bản thân công trình, với đội ngũ công nhân kỹ sư cùng các thiết bị xây dựng và khu vực công trình.
Tính thời gian trong xây dựng không chỉ thể hiện ở thời hạn hoàn thành toàn bộ công trình để đưa vào khai thác sử dụng mà còn thể hiện ở việc đáp ứng theo tiến độ quy định đối với từng hạng mục công trình. Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho cho các nhà đầu tư thực hiện các hoạt động dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng. Ngoài ra, CLCT xây dựng cần chú ý vấn đề môi trường không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các yếu tố môi trường mà cả tác động theo chiều ngược lại của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án. Tóm lại: CLCT xây dựng là đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong những điều kiện nhất định.
Nó thể hiện sự phù hợp về quy hoạch, đạt được độ tin cậy trong khâu thiết kế, thi công, vận hành theo tiêu chuẩn quy định, có tính xã hội, thẩm mỹ và hiệu quả đầu tư cao, thể hiện tính đồng bộ trong công trình, thời gian xây dựng đúng tiến độ.2 Khái niệm về quản lý chất lượng.1Tổng quan về quản lý chất lượng. 7 Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. QLCL là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng.
Hiện nay, tồn tại các quan điểm khác nhau về QLCL. - Theo Gost 15467 – 70: QLCL là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng. Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng chi phí.Robertson, một chuyên gia người anh về chất lượng cho rằng: QLCL được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đối tượng cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng. - Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: QLCL là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hóa có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng.
- Theo giáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa QLCL có nghĩa là: Nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. - Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa về QLCL: Là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động. 8 - Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng: QLCL là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng. Như vậy, tuy còn nhiều tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về QLCL, song nhìn chung chúng có những điểm giống nhau như: - Mục tiêu trực tiếp của QLCL là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu của thị trường với chi phí tối ưu.
- Thực chất của QLCL là tổng hợp các hoạt động của chức năng quản lý như: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh. Nói cách khác, QLCL chính là chất lượng của quản lý. - QLCL là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội). QLCL là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp, nhưng phải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng.
QLCL công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu cầu, quy định và thực hiện các yêu cầu, quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng. Hoạt động QLCL công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát và tự giám sát của CĐT và các chủ thể khác. Nói cách khác: QLCL công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động của cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng.1Sơ đồ quản lý chất lượng công trình xây dựng.3 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng theo giai đoạn dự án.2 Sơ đồ hoạt động quản lý CLCT xây dựng theo vòng đời dự án. 10 Hoạt động QLCL công trình xây dựng diễn ra ở tất cả các giai đoạn của dự án.
Tuy nhiên, chủ yếu diễn ra ở ba giai đoạn. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc đầu tư.Trong ba giai đoạn đó giai đoạn thực hiện đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm xây dựng. QLCL ở giai đoạn thực hiện đầu tư chủ yếu diễn ra như sau: - QLCL khảo sát xây dựng, các yêu cầu chính trong hoạt động QLCL ở giai đoạn này là. + Tìm kiếm đơn vị khả sát xây dựng có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện công tác tư vấn và khảo sát công trình với chất lượng cao nhất, giá thành thấp nhất.
+ Có thể bổ sung nhà thầu tư vấn giám sát quá trình khảo sát xây dựng. Nếu phát hiện các yếu tố bất thường có thể đề nghị khảo sát bổ sung. Đơn vị tư vấn giám sát khảo sát được lựa chọn phải có năng lực và kinh nghiệm phù hợp. - QLCL thiết kế công trình, các yêu cầu chủ yếu trong hoạt động QLCL ở giai đoạn này là yêu cầu về năng lực của các nhà thầu, cụ thể.
+ Nhà thầu thiết kế: Bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện thiết kế. Cử người có đủ điều kiện năng lực theo quy định để làm chủ nhiệm đồ án thiết kế, chủ trì thiết kế. + Nhà thầu thẩm tra: Tổ chức, cá nhân đủ điều kiện năng lực thực hiện thẩm tra đối với các phần việc mà mình thực hiện. - QLCL thi công xây dựng công trình có các hoạt động QLCL tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng, giám sát thi công XDCT và công tác nghiệm thu của chủ đầu tư, giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế XDCT và ở một số dự án có sự tham gia giám sát của cộng đồng….3 Các phương pháp quản lý chất lượng.1 Phương pháp kiểm tra chất lượng.
Theo ISO 8402 thì “Kiểm tra chất lượng là các hoạt động như đo, xem xét thử nghiệm hoặc định chuẩn một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự không phù hợp của mỗi đặc tính”.