Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 1. Khái quát chung về bảo đảm tiền vay 1. Khái niệm và đặc trưng bảo đảm tiền vay Trong hoạt động của các NHTM, tín dụng luôn là lĩnh vực đem lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro có thể có ảnh hướng rất lớn đến sự an toàn của ngân hàng.
Do đó, ngân hàng phải áp dụng nhiều biện pháp để hạn chế những rủi ro đó, và một trong các biện pháp mà các ngân hàng thường sử dụng là bảo đảm tiền vay. Bảo đảm tiền vay là thiết lập các cơ sở kinh tế và pháp lý tạo điều kiện cho ngân hàng thỏa mãn nhu cầu thu hồi tín dụng đã cấp trong trường hợp người vay không thực hiện trả nợ theo quy định. Xét từ góc độ người cho vay, bảo đảm tiền vay phải thể hiện được ba đặc trưng sau: Thứ nhất, giá trị của bảo đảm phải lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm. Không chỉ đóng vai trò là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng, bảo đảm tín dụng còn có ý nghĩa thúc giục người đi vay trả nợ, nếu không họ sẽ mất tài sản.
Nhưng nếu giá trị của tài sản nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì người đi vay dễ có động cơ không trả nợ.Nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm vốn gốc, lãi và các chi phí khác trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Thứ hai, tài sản phải có sẵn thị trường tiêu thụ.Khi xem xét về tài sản đảm bảo, mức độ thanh khoản của tài sản luôn là yếu tố được các ngân hàng quan tâm. Tài sản có mức thanh khoản thấp hay nói cách khác là tài sản khó bán thường khó được ngân hàng chấp nhận. Tài sản có mức thanh khoản trung bình có thể chấp nhận được nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý.
Thứ ba, tài sản phải có đầy đủ cơ sở pháp lý để ngân hàng có quyền ưu tiên về xử lý tài sản. Đặc trưng này phải thể hiện được các mặt sau: tài sản phải thuộc sở Trần Thị Tuyết Nhung Lớp NHE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng hữu hợp pháp của người vay, người bảo lãnh và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời phải có đủ các cơ sở pháp lý để ngân hàng có quyền ưu tiên xử lý tài sản nhằm thu nợ khi người đi vay không thanh toán đúng hạn. Vai trò của bảo đảm tiền vay * Đối với ngân hàng thương mại Thứ nhất, bảo đảm tiền vay được coi là nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng khi nguồn thu nợ thứ nhất không đủ để thanh toán nợ. Trong cho vay kinh doanh, nguồn thu nợ thứ nhất từ doanh thu thực tế đối với vay ngắn hạn, từ khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung, dài hạn.
Trong cho vay tiêu dùng, nguồn thu nợ thứ nhất từ thu nhập cá nhân như tiền lương và các khoản thu nhập khác. Trong hoạt động kinh doanh, có rất nhiều lý do khiến nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được, nếu không có nguồn bổ sung tất yếu ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro tín dụng. Do đó, để bảo vệ lợi ích của mình, các ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải có các đảm bảo cần thiết. Thứ hai, bảo đảm tiền vay gắn liền trách nhiệm vật chất của người đi vay trong quá trình sử dụng vốn vay.Có nhiều trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng vốn thiếu hiệu quả, hoặc có trường hợp khách hàng có khả năng trả nợ nhưng lại không mong muốn trả nợ, điều này gây nên rủi ro cho ngân hàng.
Thực hiện bảo đảm tiền vay sẽ là động lực thúc đẩy khách hàng thận trọng hơn trong các quyết định đầu tư của mình, nâng cao thiện chí trả nợ, ngăn chặn rủi ro đạo đức và thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính đã cam kết với ngân hàng. Thứ ba, bảo đảm tiền vay còn là hình thức giúp các NHTM mở rộng hoạt động tín dụng. Bảo đảm tiền vay giúp ngân hàng tạo lập và mở rộng quan hệ tín dụng đối với khách hàng vì đây có thể coi là điều kiện bổ sung để ngân hàng cấp tín dụng đối với khách hàng. Đối với những khách hàng mới, vay lần đầu tại ngân hàng, chưa có uy tín hoặc kể cả những khách hàng lâu năm nhưng vì lí do nào đó mà thiếu một vài điều kiện ở mức chấp nhận được của ngân hàng, thì việc những khách hàng này có tài sản đảm bảo có giá trị sẽ tạo điều kiện để họ tiếp cận nguồn vốn ngân hàng một cách dễ dàng hơn, ngân hàng có thể mở rộng tín dụng, giữ được mối quan hệ với khách hàng.
Trần Thị Tuyết Nhung Lớp NHE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng * Đối với khách hàng Đối với khách hàng là người đi vay, đảm bảo tiền vay là một trong những yếu tố góp phần làm tăng sự tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng, từ đó, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch với ngân hàng thuận tiện hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng được đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu về vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng. Đối với khách hàng là người gửi tiền, đảm bảo tiền vay góp phần làm giảm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, vì vậy khoản tiền gửi của họ sẽ an toàn hơn, và họ sẽ yên tâm hơn khi gửi tiền vào hệ thống ngân hàng. * Đối với nền kinh tế Bảo đảm tiền vay là yếu tố góp phần thiết lập và thúc đẩy việc tạo lập mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, giúp nâng cao việc sử dụng vốn vay của người đi vay, góp phần bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, lợi ích của ngân hàng, đem lại hiệu quả kinh tế- xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Có thể nói, bảo đảm tiền vay đóng một vai trò quan trọng đối với khách hàng, ngân hàng và đối với toàn bộ nền kinh tế.
Tuy nhiên, bảo đảm tiền vay thông thường chỉ được coi là một biện pháp thay thế, là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng. Việc ngân hàng quyết định cấp tín dụng hay không phải phụ thuộc vào tính khả thi của dự án, năng lực pháp lý, khả năng tài chính của khách hàng,. chứ bảo đảm tiền vay không phải là nhân tố quyết định. Việc vận dụng linh hoạt các biện pháp bảo đảm tiền vay là đòi hỏi tất yếu khách quan đối với ngân hàng, nhằm giảm rủi ro, tạo điều kiện linh hoạt cho hoạt động tín dụng phát triển, nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Các hình thức bảo đảm tiền vay Có hai hình thức bảo đảm tiền vay là bảo đảm bằng tài sản và bảo lãnh. Bảo đảm bằng tài sản Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng (TCTD) mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực Trần Thị Tuyết Nhung Lớp NHE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Điều kiện đối với tài sản bảo đảm (TSBĐ) Một tài sản muốn được chấp nhận là TSBĐ tiền vay tại ngân hàng thì cần thỏa mãn các điều kiện về pháp lý và kinh tế. * Điều kiện pháp lý - Tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền.
- Tài sản được phép giao dịch: là các loại tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không cấm mua, bán, tặng, cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và các giao dịch khác. - Tài sản không có tranh chấp tại thời điểm kí kết hợp đồng bảo đảm. * Điều kiện kinh tế - Tài sản có tính thị trường cao: tài sản dễ dàng bán, trao đổi trên thị trường một cách nhanh chóng với chi phí thấp nhất. - Tài sản có giá trị tương đối ổn định, ít biến động.
- Tài sản có đủ giá trị để thực hiện bảo đảm tín dụng. Các hình thức bảo đảm bằng tài sản Cầm cố Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trong trường hợp cầm cố nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ dân sự thì mỗi tài sản được xác định bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.Các bên cũng có thể thỏa thuận mỗi TSBĐ thực hiện một phần nghĩa vụ. Do khi thực hiện Trần Thị Tuyết Nhung Lớp NHE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng cầm cố tài sản có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên cho vay nên không thể dùng một tài sản để cầm cố cho nhiều món vay.
Các tài sản cầm cố thường là những tài sản dễ chuyển giao, dễ vận chuyển hay đó là những tài sản có thể lưu giữ được tại ngân hàng hoặc một bên thứ ba.1 Các hình thức cầm cố chủ yếu CẦM CỐ CHIẾT KHẤU CẦM CỐ BẰNG CẦM CỐ BẰNG BẰNG KÝ HÓA GIẤY TỜ CÓ HÀNG HÓA PHIẾU GIÁ * Cầm cố bằng hàng hóa Các hàng hóa được sử dụng để cầm cố như là nguyên vật liệu, thành phẩm, phương tiện vận tải,. thường phải có giá trị ổn định để tiêu thụ trong hiện tại và tương lai, được phép lưu thông và khách hàng phải được phép kinh doanh hàng hóa đó. Tùy theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, các hàng hóa được cầm cố có thể được lưu trữ tại kho của ngân hàng, kho của khách hàng, kho trung gian hay kho công cộng. Hình thức này có ưu điểm là khi khách hàng không thanh toán được nợ đúng hạn thì ngân hàng có thể bán hàng hóa đó dễ dàng hơn so với bất động sản đồng thời giúp các doanh nghiệp thực hiện dự trữ hàng hóa theo chu kỳ và thời vụ nhằm ổn định sản xuất và đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
* Chiết khấu kí hóa phiếu Chiết khấu kí hóa phiếu là một hình thức cho vay bảo đảm bằng quyền về tài sản xuất phát từ hợp đồng ký thác hàng hóa.