CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘ KINH DOANH VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Lý luận về hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh Hộ kinh doanh theo điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn về thủ tục đăng kí kinh doanh của Luật doanh nghiệp 2014 quy định “Hộ kinh doanh do 1 cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng kí kinh doanh tại 1 địa điểm, sử dụng dưới 10 lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” Kinh tế hộ gia đình hoạt động SXKD là một lực lượng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Theo thống kê của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, chúng ta hiện có 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp gần 30% GDP của cả nước.
Hộ kinh doanh đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn đang tiếp tục phát triển. Ngày nay hộ kinh doanh đang trở thành một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nước ta là một nước nông nghiệp, khu vực dân cư sống ở nông thôn chiếm hơn 60% dân số nên hộ kinh doanh nói chung và hộ sản xuất nông nghiệp nói riêng là một lực lương sản xuất quan trọng ở nông thôn. Hộ kinh doanh hoạt động trong nhiều ngành nghề.
Hiện nay các hộ không chỉ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn tiến hành SXKD đa dạng nhiều ngành nghề đem lại lợi nhuận cao góp phần phát triển nền kinh tế. Đặc điểm kinh tế hộ kinh doanh a. Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân Hộ kinh doanh thường do một cá nhân hay đại diện của một nhóm người thành lập, có bản chất là cá nhân kinh doanh nên không thể là pháp nhân. Mọi tài sản của hộ kinh doanh đều là tài sản của các cá nhân tạo lập nên hộ kinh doanh và 3 hưởng toàn bộ lợi nhuận cũng như chịu mọi nghĩa vụ liên quan.
Cá nhân đại diện đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh. Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh có quy mô nhỏ Đặc điểm này xuất phát từ hình thức hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ kinh doanh. Theo đó, hộ kinh doanh sử dụng dưới 10 người lao động cho thấy mức độ về quy mô số lượng lao động trong hộ kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế quy định này không thật cần thiết cho người kinh doanh, với một số trường hợp có thể sử dụng số lượng lao động nhiều hơn.
Hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính nghề nghiệp thường xuyên Hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên và thu nhập chính đáng của họ phát sinh từ hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh có hình thức, quy mô nhỏ lẻ nhưng có phạm vi phân bố rộng khắp, có thể hoạt động tại các địa bàn, khu vực vùng sâu vùng xa nơi điều kiện kinh tế, xã hội còn khó khăn và ngành nghề của hộ kinh doanh đôi khi là các lĩnh vực ngành nghề, chế biến và dịch vụ nhỏ, thô sơ.Các hộ kinh doanh được xem là đơn vị phân phối sản phẩm, hàng hóa của các doanh nghiệp đến người dân. Nhờ vậy mà hộ kinh doanh có lợi thế về tính linh hoạt, dễ dàng thay đổi mặt hàng hay chuyển hướng kinh doanh và cả địa điểm để phù hợp với hoạt động khi cần thiết. Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh Cá nhân, nhóm người hoặc các thành viên như trong hộ chịu trách nhiệm đến cùng về mọi khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh (trách nhiệm vô hạn).
Hay nói cách khác, khi phát sinh khoản nợ, cá nhân hoặc các thành viên phải chịu trách nhiệm trả hết nợ, không phụ thuộc vào số tài sản kinh doanh hay dân sự mà họ đang có, không phụ thuộc vào việc họ đang thực hiện hay đã chấm dứt thực hiện hoạt động kinh doanh 4 1. Vai trò của hộ kinh doanh trong nền kinh tế a. Góp phần tăng trưởng chung cho nền kinh tế Việc phát triển kinh tế tư nhân là nhân tố đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và tham gia vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, Ngoài ra, hộ kinh doanh cũng giúp gia tăng GDP và nguồn thu ngân sách nhà nước, là kênh đóng góp quan trọng trong việc kích thích cung - cầu tiêu dùng, lưu thông hàng hóa, cũng như đóng góp vào công tác xã hội. Khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ Các hộ kinh doanh có mặt ở hầu hết các vùng, miền, địa phương đã có thể tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ, tận dụng triệt để các nguồn lực xã hội, có nhiều thuận lợi trong việc khai thác tiềm năng phong phú từ nhân dân.
Hộ kinh doanh cũng sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phát triển gia tăng số lượng hộ kinh doanh và tạo được sự kích thích cho các hộ kinh doanh chuyển đổi mô hình doanh nghiệp sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Tạo việc làm cho người lao động Các hộ kinh doanh tạo công ăn việc làm cho người dân, thu hút một lực lượng lao động đáng kể giúp giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội đặc biệt với những công việc không yêu cầu trình độ hay chuyên môn hay tay nghề. Tín dụng đối với hộ kinh doanh 1.
Khái niệm tín dụng ngân hàng và đặc điểm tín dụng đối với hộ kinh doanh a. Khái niệm tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế hàng hóa, trong cùng một thời gian luôn có những người thừa vốn, có tiền nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó, luôn có những người 5 tạm thời thiếu hụt về vốn, có nhu cầu đi vay. Chính điều này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà vốn được dịch chuyển từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn với điều kiện vốn phải được hoàn trả sau một thời gian nhất định cho người sở hữu vốn và với một lượng giá trị lớn hơn ban đầu.
Đây chính là quan hệ tín dụng. Dưới góc độ mối quan hệ giữa các chủ thể, tín dụng gồm ba hình thức là: tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. Trong đó, tín dụng nhà nước chủ yếu là vốn do Nhà nước cấp cho một số doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu của Chính phủ, các Doanh nghiệp nhà nước. Tín dụng thương mại chủ yếu dưới hình thức doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh chiếm dụng vốn của bạn hàng và khách hàng thông qua hình thức trả chậm hoặc nhận ứng trước.
Đặc biệt tín dụng ngân hàng là hình thức vô cùng quan trọng, nó là một mối quan hệ tín dụng chủ yếu. Cụ thể nó là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển trực tiếp vốn từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Qua đó ta rút ra được khái niệm của hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại như sau: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán” Cụ thể khái niệm tín dụng đối với hộ kinh doanh: “Là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng vào mục địch sản xuất kinh doanh như: mua bán hàng hóa, sản xuất hàng hóa, nuôi trồng, đánh bắt hải sản, du lịch, dịch vụ thương mại.
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm tín dụng đối với hộ kinh doanh - Số lượng khách hàng là hộ kinh doanh vay ngân hàng rất đông, trải khắp các khu vực, địa bàn thường tập trung các hộ kinh doanh như là các chợ đầu mối, các hộ 6 mặt đường ở khu vực dân cư đông đúc. Các ngành nghề sản xuất kinh doanh trong cho vay hộ kinh doanh vô cùng đa dạng và phức tạp. - Hộ kinh doanh do cá nhân đứng ra vay vốn và có trách nhiệm hoàn trả khoản vay nhưng mục đích sử dụng vốn lại khác biệt so với cho vay tiêu dùng và đang có xu hướng giống với mục đích vay của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Thông tin do các hộ cung cấp thường không đầy đủ, chất lượng thông tin cung cấp không cao, do đó tình trạng bất cân xứng luôn gây khó khăn cho ngân hàng trong việc phân tích, thẩm định khách hàng là hộ kinh doanh để tìm ra phương án vay vốn phù hợp để cấp tín dụng. - Hiện nay hầu hết các hộ kinh doanh có năng lực còn yếu, công nghệ chưa hiện đại, phần lớn chủ hộ kinh doanh chưa được đào tạo bài bản nên khả năng quản trị, xây dựng chiến lực sản xuất kinh doanh dài hạn cũng như quản lí tài chính còn rất hạn chế. - Chi phí để thực hiện cho vay hộ thường cao, ngân hàng gặp khó khăn trong việc giám sát khách hàng vay vốn, do đó lãi suất trong cho vay hộ kinh doanh thường cao hơn lãi suất cho vay doanh nghiệp cùng kỳ hạn.