phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chưong 1: N hữ ng vẩn đề cơ bản về vốn và họat động huy động vốn của ngân hàng thương m ại Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp Lào. Chương 3: Giải pháp m ở rộng họat đỏng huy động vẩn tai Ngân hàng N ông nghiệp Lào. 4 Chưong 1 NHỮNG VẤN ĐÈ c o BẢN VÈ VÓN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÓN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. K h á i n iệm v ề v ố n ĐÔI với các doanh nghiệp, kê cả các NHTM muốn tiến hành kinh doanh, điều kiện cần thiết trước tiên là phải có vốn.
Tuy nhiên do đặc điểm khác nhau nên nguồn hình thành, qui mô và tính chất về vốn của các doanh nghiệp sẽ khác nhau. Do đặc thù hoạt động kinh doanh của NHTM ngoài bộ phận vốn điều lệ khi thành lập và tích lũy được trong quá trình kinh doanh bọ phạn von chu yeu của ngân hàng là lượng tiên tệ tạm thò’i nhàn rồi trong quá trình sản xuất- lưu thông hàng hóa và quá trình tích lũy- tiêu dùng mà ngươi chu sơ hữu của chúng gửi vào ngân hàng đê thực hiện các mục đích khác nhau. Nói cụ thể hơn, họ đã chuyển nhượng quyền sử dụng vốn tiền tệ cho ngân hàng để rồi ngân hàng phải hoàn trả cho họ vốn gốc và một khoản thu nhạp (tien lai) theo thoa thuận. Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tạp trung va phan phôi lại vôn dưới hình thức tiên tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, góp phần phục vụ và kích thích mọi hoạt động kinh tể phát triên.
Mặt khác, các hoạt động đó lại có ảnh hưởng quyết định đến thực hiện các chức năng của NHTM, sự tồn tại và phát triển kinh doanh của ngân hàng. Từ những phân tích trên đây có thể nói rằng: vắn trong hoạt động kỉnh doanh cua NHTM là những giá trị tiên tệ do NHTM tạo lập và huy động được dùng đê cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Các loại vốn của ngân hàng thương mại Từ khái niệm trên cho thấy, sự đa dạng, phong phú về thành phần tạo nên vổn trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Nói cụ thể hơn, vốn của NHTM bao gồm: vốn tự có (vổn chủ sở hữu); vốn huy động; vốn đi vay và vổn khác.
Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu ]à số vốn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng thương mại (NHTM), nó bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trừ và các tài sản nợ khác theo quy định. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh, thuộc sở hữu của chủ ngân hàng và chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tông nguồn vốn. vốn chủ sở hữu là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm trong hoạt động ngân hàng, vốn chủ sở hữu gồm: a). vổn điều lệ.
Vốn điều lệ là sổ vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Tuỳ theo hình thức sở hữu vốn điều lệ của ngân hàng thương mại được hình thành từ các nguồn khác nhau. Đối với ngân hàng thương mại nhà nước, vốn điêu lệ do ngân sách nhà nước cấp khi thành lập và được bổ sung thêm trong quá trình hoạt động. Vôn điều lệ nhiều hay ít phụ thuộc vào khả năng tài chính của các chủ sở hữu và quy mô hoạt động của từng ngân hàng, nhưng không được thấp hơn mức vôn pháp định mà luật pháp quy định cho từng loại hình ngân hàng thương mại.
Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng có thể tăng thêm vốn điêu lệ nhưng phải được sự đông ý của Ngân hàng nhà nơức và phải công bổ công khai vốn điều lệ mới. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có thể gia tăng vốn của chủ theo 6 nhiêu hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể như phát hành thêm cổ phần, góp hay được cấp thêm.Các nguồn vốn khác của ngân hàng có thể không nhiều, thời gian sử dụng đôi khi rất ngắn nhung điều đáng quan tâm là ngân hàng không phải tốn kém chi phí huy động nhung lại có điều kiện phát triển các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng khác, phục vụ tổt nhất nhu cầu của khách hàng. c) Các quỹ của ngân hàng.
Đe đảm bảo duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của mình, trong quá trình hoạt động các ngân hàng thương mại được trích lập các quỹ dự trự. Các quỹ này được thực hiện theo quy định của từng quốc gia về mức độ trích lập, quy mô của quỹ và mục đích sử dụng. - Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ hàng năm được trích theo một tỷ lệ nhất định từ lợi nhuận sau thế. Ở Lào căn cứ vào Nahị định 141/NĐ/CP ngày 24- 09-2009, mức trích lập quỹ là 10% lợi nhuận sau thuế, mức tối đa của quỹ này bằng mức vổn điều lệ thực có.
Quỹ dự trữ bổ sung = Lợi nhuận vốn điều lệ ~~ sau thuế x 0 Phân chênh lệch giữa giá bán cổ phiếu với mệnh giá, theo quy định hiện hành được hạch toán vào quỹ dự trừ bổ sung vốn điều lệ. - Quỹ dự phòng tài chính. Khoản dự phòng tổn thất tín dụng được xem như một bộ phận của bốn tự có bởi nó được dung đê bù đắp sự thua lỗ. Ở Lào theo văn bản hiện hành, hàng năm NHTM được trích lập 10% lợi nhuận sau thuế, số dư quỹ này không được vượt quá 25% vổn điều lệ của ngân hàng.
Các quỹ khác: Quỹ phúc lợi, quỹ phát triển nghiệp vụ.các quỹ này 7 cũng được trích lập và sử dụng theo quy định của pháp luật Quỹ dữ phòng rủi ro: được trích lập hàng năm và được tích luỹ lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra. Quỹ bảo tôn vốn: nhằm bù đắp hao mòn của vổn dưới tác động của lạm phát. Quỹ thặng dư: Là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa giá trị và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành thêm cổ phiếu mới. Ngoài ra còn có các quỹ khác như: Quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi.
Các quỹ này được thành lập từ thu nhập sau thuế. Các loại tài sản nợ khác. Theo quy định của pháp luật một số tài sản nợ khác được coi như vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại. Bao gồm: - Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản do nhà nước cấp (nếu có).
- Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá. - Lợi nhuận được đế lại chưa phân bổ cho các quỹ. Vôn chủ sở hữu nói chung và von điều lệ nói riêng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong toàn bộ nguồn vốn hoạt động nhưng lại có ý nghĩa rất lớn. Trước hết đây là điều kiện pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của ngân hàng thương mại, là căn cứ để tính toán các tỷ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng.
Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập, cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các TCTD với nhau và giữa TCTD trong nước với nước ngoài thì vốn chủ sở hữu đựơc xem là một trong những nhân tố rất cơ bản đánh giá năng lực tài chính, mức độ chịu đựng rủi ro, điều kiện để tiếp cận với các dự án đầu tư của các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế. V ố n h u y đ ộ n g Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác. Bản chất của vốn huy động là tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn. Ngân hàng không được phép sử dụng hết sổ vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ họp lý để đảm bảo khả năng thanh toán.
Thông thường vốn huy động của ngân hàng thương mại dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và ngoại tệ) bằng vàng được hình thành từ hai bộ phận: Vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá. Vốn huy động bao gồm: * T iề n g ử i k h ô n g k ỳ h ạ n : là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút tiền ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thoả mãn các nhu cầu đó. Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán. * T iề n g ử i c ó k ỳ h ạ n : là loại tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian rút tiền, v ề nguyên tắc, người gửi chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã thoả thuận, nhưng trên thực tế để thu hút lại tiền gửi này với kỳ hạn dài, các ngân hàng vân cho phép rút tiền trước thời hạn nhưng khách hàng chỉ được hưởnq lãi suất không kỳ hạn hoặc với mức lãi suất tương ứno; theo loại kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định.
* P h á t h à n h g i ấ y t ờ c ó g i ả : Giấy tờ có giá là những công cụ nợ do ngân hàng phát hành đê huy động vốn trên thị trường. Nguồn vốn này tương đôi ôn định đê sử dụng cho mục đích nào đó. Lãi suất của loại này phụ thuộc 9 vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường lãi suất cao hơn lãi suât tiền gửi có kỳ hạn thông thường. Với hình thức huy động này thường chi phí huy động thường cao hơn các hình thức khác.
Bởi ngoài chi phí trả lãi thì ngân hàng còn phải mất nhiều chi phí cho quảng cáo, in ấn, phát hành. Mức cao hơn còn phụ thuộc vào tính cấp thiết của việc huy động vốn. Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành bao gồm trái phiếu, kỷ phiếu, chứng chỉ tiền gửi. Và họ có thê phát hành dưới hình thức bằng mệnh giá (Phát hành ngang giá), dưới mệnh giá (Phát hành có chiết khấu), cao hơn mệnh giá (Phát hành có phụ trội).