Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" do sinh viên Nguyễn Thị Hoài thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Huyền Phương tại Trường Đại học Ngoại thương (Hà Nội, tháng 05/2010), thuộc chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế. Đề tài được đặt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối Đổi mới (kể từ năm 1986) và đạt được bước ngoặt quan trọng khi chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2006. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng mang lại cơ hội mở rộng thị trường ngoại thương nhưng đồng thời đặt đất nước trước sức ép cạnh tranh gay gắt, các rào cản thương mại từ những quốc gia phát triển, cùng những chấn động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008 - 2009.

Trong điều kiện đó, việc xác định sản phẩm xuất khẩu chủ lực và cơ cấu thị trường xuất khẩu trọng điểm dựa trên tiềm năng nội lực và xu thế vận động của kinh tế thế giới là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả ngoại thương và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận cùng các nhân tố tác động đến việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của một quốc gia.
  2. Đánh giá thực trạng lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam qua các thời kỳ, tập trung vào việc khai thác lợi thế cạnh tranh và chỉ rõ các thành tựu cùng những hạn chế còn tồn tại.
  3. Đề xuất các quan điểm, định hướng phát triển đến hết năm 2010, tầm nhìn 2020, cùng hệ thống giải pháp ở cả cấp độ Nhà nước (vĩ mô) và doanh nghiệp (vi mô) nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề kinh tế trong nước và quốc tế liên quan đến việc xác định danh mục sản phẩm, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, lựa chọn đối tác và cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường quốc tế, trong đó đi sâu phân tích một số nhóm hàng chủ lực (gạo, thủy sản, dệt may, dầu thô) và các thị trường trọng điểm (Hoa Kỳ, Trung Quốc).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dữ liệu thứ cấp từ năm 1986 đến năm 2009, tập trung phân tích sâu giai đoạn 2000 - 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các khung lý thuyết kinh tế đối ngoại và quản trị thương mại quốc tế chuẩn mực để làm nền tảng phân tích:

  • Mô hình Kim cương (The Diamond Model) của Michael Porter (1990) về lợi thế cạnh tranh quốc gia: Khung lý thuyết này phân tích 4 nhóm yếu tố tương tác lẫn nhau tạo nên năng lực cạnh tranh của một ngành và quốc gia gồm: Điều kiện các yếu tố sản xuất (nguồn lực đầu vào); Điều kiện về cầu trong nước; Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh ngành. Ngoài ra, mô hình kết hợp hai biến số tác động ngoại sinh là vai trò điều hành của Chính phủ và các yếu tố Cơ hội (như biến động thị trường toàn cầu, các mốc gia nhập định chế thương mại quốc tế).
  • Lý thuyết về phân công lao động quốc tế, chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm và xu thế kinh tế tri thức: Giải thích sự dịch chuyển lợi thế so sánh từ các ngành sử dụng nhiều tài nguyên, lao động phổ thông sang các ngành thâm dụng công nghệ và vốn.
  • Khung chính sách ngoại thương vĩ mô và vi mô: Bao gồm chiến lược đa dạng hóa sản phẩm, xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực (5 đến 10 mặt hàng cốt lõi), chính sách mở rộng trực tiếp, thích nghi sản phẩm, quản trị chủng loại sản phẩm và phát triển thị trường xuất khẩu trọng điểm.
  • Khung pháp luật và chính sách thương mại Việt Nam: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 (sửa đổi các năm và bản năm 2005); Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994 (sửa đổi 1998); Luật Thương mại năm 1997 (sửa đổi 2005); các hiệp định song phương và đa phương (AFTA, AJCEP, AKFTA, cam kết gia nhập WTO).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các bộ phận cấu thành của kim ngạch, cơ cấu ngành hàng và tổng hợp thành bức tranh toàn cảnh về ngoại thương.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và phân nhóm dữ liệu chuỗi thời gian về kim ngạch, sản lượng, tỷ trọng xuất khẩu.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu số liệu xuất khẩu qua từng thời kỳ lịch sử và so sánh mức độ thâm nhập giữa các thị trường xuất khẩu trọng điểm.
  • Phương pháp khái quát hóa và phương pháp luận giải: Rút ra bản chất xu hướng vận động của cơ cấu xuất khẩu và luận cứ cho các giải pháp đề xuất.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê (các năm 1996, 2001, 2006, 2008, 2009), Báo cáo tổng kết công tác xuất nhập khẩu của Bộ Công Thương (các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009) cùng các tài liệu nghiên cứu chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thương mại quốc tế và vai trò của việc lựa chọn sản phẩm, thị trường xuất khẩu đối với nền kinh tế đang phát triển. Tác giả chỉ ra bối cảnh kinh tế toàn cầu có những biến chuyển mang tính bước ngoặt: khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, kinh tế tri thức thu hẹp khoảng cách không gian; thương mại điện tử làm thay đổi phương thức tiếp thị; xu thế toàn cầu hóa xóa bỏ dần các rào cản thương mại; các công ty xuyên quốc gia mở rộng mạng lưới sản xuất phân tán; đồng thời cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 khiến thương mại thế giới sụt giảm 8,2% năm 2009 (theo NIESR), buộc các nước phải cơ cấu lại nền kinh tế.

Tác giả vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter để luận giải các cơ sở lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu:

  • Nguồn lực đầu vào: Quyết định lợi thế chi phí thấp ban đầu dựa trên lao động, đất đai, tài nguyên; cơ cấu xuất khẩu có xu hướng dịch chuyển từ hàng thô/sơ chế, thâm dụng lao động (dệt may, da giày) sang các sản phẩm thâm dụng kỹ năng (hóa chất, điện tử) và công nghệ cao.
  • Nhu cầu trong nước: Quy mô và mức độ khắt khe của thị trường nội địa tạo sức ép nâng cao chất lượng và tạo lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
  • Ngành hỗ trợ và liên quan: Bảo đảm cung ứng đầu vào ổn định, giảm chi phí giao dịch.
  • Môi trường cạnh tranh ngành: Thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến liên tục dựa trên tính độc đáo của sản phẩm thay vì chỉ dựa vào tài nguyên.
  • Chính sách Nhà nước và Cơ hội: Nhà nước định hướng phát triển, kiến tạo khung khổ pháp luật và hỗ trợ xúc tiến; các cơ hội hội nhập (như WTO) tạo bước nhảy vọt về vị thế cạnh tranh.

Về mặt chính sách, tác giả phân chia rõ hai cấp độ:

  • Cấp vĩ mô: Thực hiện đa dạng hóa ngoại thương gắn liền với việc xây dựng danh mục từ 5 đến 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực có khối lượng và giá trị lớn nhằm hạn chế rủi ro biến động giá và tối ưu hóa nguồn lực; đa dạng hóa thị trường kết hợp thiết lập các thị trường trọng điểm.
  • Cấp vi mô (doanh nghiệp): Thực hiện chiến lược mở rộng trực tiếp (giữ nguyên sản phẩm), thích nghi sản phẩm (nghiên cứu chu kỳ sống, cải tiến bao bì, tiêu chuẩn kỹ thuật) và hoạch định tuyến chủng loại sản phẩm phù hợp với thị hiếu tiêu dùng từng khu vực.

Chương 2: Thực trạng việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam

Chương 2 trình bày chi tiết thực trạng ngoại thương Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009. Về cơ sở lợi thế, Việt Nam sở hữu vị trí địa lý đắc địa trên tuyến hàng hải quốc tế, khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho nông nghiệp đa canh, địa hình phong phú (miền núi trung du chiếm 31,5%, cao nguyên 25%, ba vùng đồng bằng lớn chiếm 30% diện tích tự nhiên). Nguồn tài nguyên khoáng sản đã phát hiện hơn 3.500 mỏ thuộc hơn 80 loại khoáng sản (trữ lượng dầu khí ước tính trên 5 tỷ tấn quy đổi, than đá Quảng Ninh chiếm 98% trữ lượng cả nước, quặng sắt Thạch Khê 700 triệu tấn, bôxít Tây Nguyên 5 - 6 tỷ tấn). Quỹ đất tự nhiên đạt 33,1 triệu ha, trong đó đất phù sa hai đồng bằng lớn đạt trên 3,2 triệu ha kết hợp nguồn nhân lực trẻ, dồi dào.

Quá trình lựa chọn sản phẩm xuất khẩu được tác giả phân tích qua các giai đoạn lịch sử gắn với đường lối của Đảng và Nhà nước:

  • Giai đoạn trước năm 1991: Thực hiện ba chương trình kinh tế lớn theo Nghị quyết Đại hội Đảng VI (Lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu). Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1986 - 1990 tăng gấp 3 lần. Xuất khẩu còn mang tính thu gom manh mún, hình thành 4 mặt hàng chủ lực đạt kim ngạch trên 100 triệu USD gồm dầu thô, gạo, thủy sản và than đá.
  • Giai đoạn 1991 - 1995: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt khoảng 20%/năm. Thực hiện định hướng Đại hội VII về tăng tỷ trọng hàng chế biến, đến cuối năm 1995 Việt Nam đã định hình 9 mặt hàng có kim ngạch trên 100 triệu USD (bổ sung dệt may, giày dép, cà phê, cao su, hạt điều, lạc nhân, lâm sản). Cơ cấu hàng thô và sơ chế vẫn chiếm tới 85%.
  • Giai đoạn 1996 - 2000: Quán triệt Nghị quyết Đại hội VIII về giảm tỷ trọng sản phẩm thô, gia tăng sản phẩm chế biến sâu. Xuất hiện nhóm hàng mới là điện tử và linh kiện máy tính (năm 1998 đạt 502 triệu USD, đứng thứ 7 trong các mặt hàng chủ lực). Đến năm 2000, nhóm 5 mặt hàng công nghiệp và chế biến (dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, điện tử - linh kiện) đạt 9,12 tỷ USD, chiếm 63,75% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
  • Giai đoạn 2001 - 2006: Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, cơ cấu hàng hóa chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa. Cuối năm 2006 hình thành hơn 20 mặt hàng xuất khẩu chủ lực; gạo và cà phê giữ vị trí thứ hai, hạt tiêu vươn lên đứng đầu thế giới về khối lượng xuất khẩu. Nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ chiếm 39,0% vào năm 2006.
  • Giai đoạn sau khi gia nhập WTO (2007 - 2009):
    • Năm 2007: Xuất hiện 10 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD (dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản vượt 3 tỷ USD; điện tử và gỗ vượt 2 tỷ USD).
    • Năm 2008: Quy mô tiếp tục mở rộng với dầu thô đạt 10,5 tỷ USD; dệt may đạt 9,1 tỷ USD; giày dép 4,7 tỷ USD; thủy sản 4,56 tỷ USD; gạo 2,9 tỷ USD; sản phẩm gỗ 2,78 tỷ USD; cà phê 2,0 tỷ USD; cao su 1,6 tỷ USD; than đá 1,44 tỷ USD; dây và cáp điện lần đầu vượt 1 tỷ USD.
    • Năm 2009: Dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, kim ngạch nhiều mặt hàng sụt giảm; tuy nhiên có 12 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên. Mặt hàng gạo tăng trưởng vượt bậc 24,4% so với kế hoạch; tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 15 tỷ USD (nông sản trên 8 tỷ USD, thủy sản trên 4 tỷ USD, lâm sản trên 2 tỷ USD); dệt may đạt 9,1 tỷ USD; da giày đạt 4,1 tỷ USD; đồ gỗ đạt 2,7 tỷ USD.

Về nghiên cứu trường hợp mặt hàng lúa gạo giai đoạn 2000 - 2009: Lượng gạo xuất khẩu từ 3,47 triệu tấn (năm 2000) tăng lên gần 4,1 triệu tấn (năm 2004). Năm 2005 đạt mốc kỷ lục 5,3 triệu tấn với trị giá trên 1,34 tỷ USD (tăng 25% về lượng và 45% về giá trị so với 2004), giá bình quân đạt 267 USD/tấn.

Về thị trường xuất khẩu, quá trình chuyển dịch diễn ra mạnh mẽ từ các thị trường khu vực truyền thống sang đa phương hóa. Hai thị trường xuất khẩu trọng điểm là Hoa Kỳ và Trung Quốc được phân tích sâu với kim ngạch tăng trưởng nhanh nhưng phải đối mặt với các biện pháp bảo hộ, rào cản kỹ thuật khắt khe. Tác giả chỉ ra hạn chế lớn là hàng xuất khẩu Việt Nam vẫn chủ yếu là gia công, tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị gia tăng khiêm tốn và chịu sự phụ thuộc lớn vào biến động giá thế giới.

Chương 3: Định hướng và giải pháp cho việc lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng phát triển xuất khẩu đến hết năm 2010 và tầm nhìn 2020:

  • Về cơ cấu mặt hàng: Tiếp tục giảm dần tỷ trọng hàng thô và sơ chế; tăng nhanh tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến, hàng cơ khí - chế tạo, sản phẩm điện tử, công nghệ cao và các mặt hàng nông sản chế biến sâu có thương hiệu quốc tế.
  • Về thị trường: Tiếp tục củng cố và khai thác chiều sâu tại các thị trường trọng điểm có dung lượng lớn (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN); đồng thời mở rộng tìm kiếm các thị trường tiềm năng tại Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh nhằm phân tán rủi ro.

Tác giả đề xuất hai hệ thống giải pháp:

  1. Nhóm giải pháp đối với Nhà nước:
  • Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách thương mại và thể chế kinh tế thị trường đồng bộ tương thích với các cam kết WTO.
  • Phát triển mạnh hệ sinh thái dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu: cung cấp thông tin thị trường, phân tích dữ liệu ngoại thương, phát triển cơ quan thương vụ ở nước ngoài và xúc tiến thương mại.
  • Đổi mới chính sách đầu tư: cải thiện môi trường thu hút FDI hướng vào công nghệ cao, khuyến khích đầu tư vốn cho sản xuất hàng xuất khẩu.
  • Tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ nhằm chủ động nguồn nguyên phụ liệu đầu vào, giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu.
  • Đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ và nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành sản xuất mũi nhọn.
  • Điều chỉnh cơ cấu kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu gắn kết với thị trường nội địa.
  1. Nhóm giải pháp đối với Doanh nghiệp:
  • Nâng cao năng lực thu thập và phân tích thông tin thương mại quốc tế để dự báo biến động thị trường.
  • Chủ động đổi mới quản trị, nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp và sản phẩm.
  • Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì, thiết kế nhãn mác đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và hàng rào kỹ thuật quốc tế.
  • Đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kinh doanh ngoại thương về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và pháp luật quốc tế.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam qua các giai đoạn then chốt từ thời kỳ đầu Đổi mới đến khi gia nhập WTO:

Giai đoạn Đặc điểm cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Số lượng mặt hàng chủ lực tiêu biểu
1991 - 1995 Hàng thô và sơ chế chiếm 85%. Tỷ trọng nông, lâm, hải sản giảm từ 52,3% (1991) xuống mức thấp hơn; công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 33,3% (1991), có năm đạt 37,1% (1992) do đóng góp của dầu thô. 9 mặt hàng đạt trên 100 triệu USD (dầu thô, gạo, thủy sản, dệt may, cà phê, cao su, hạt điều, lạc nhân, lâm sản).
1996 - 2000 Chuyển dịch tích cực: nông, lâm, hải sản giảm từ 42,5% (1996) xuống 29,0% (2000); công nghiệp nặng và khoáng sản tăng từ 28,1% lên 37,1%; công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 29,0% lên 33,9%. 5 mặt hàng công nghiệp chế biến đạt 9,12 tỷ USD (63,75% kim ngạch cả nước năm 2000); xuất hiện mặt hàng điện tử - máy tính (502 triệu USD năm 1998).
2001 - 2006 Nhóm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ chiếm ưu thế, tăng từ 33,9% (2001) lên 39,0% (2006); nhiên liệu và khoáng sản dao động quanh 19,9% - 24,7%; nông, lâm, thủy sản giảm xuống 20,5% (2006). Hơn 20 mặt hàng chủ lực (2006); gạo và cà phê giữ vị trí thứ 2 thế giới, hạt tiêu đứng số 1 thế giới; gạo đạt kỷ lục 5,3 triệu tấn (1,34 tỷ USD năm 2005).
2007 - 2009 Bước nhảy vọt về quy mô sau khi gia nhập WTO: hình thành phân khúc các mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trên 2 tỷ USD và trên 3 tỷ USD. Cơ cấu hướng vào sản phẩm chế biến và nông sản chất lượng cao. Năm 2007 có 10 nhóm hàng > 1 tỷ USD; năm 2008 dầu thô đạt 10,5 tỷ USD, dệt may 9,1 tỷ USD; năm 2009 có 12 nhóm hàng > 1 tỷ USD (gạo vượt kế hoạch 24,4%, tổng nông lâm thủy sản đạt 15 tỷ USD).

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa một giai đoạn lịch sử ngoại thương dài hơn 20 năm (1986 - 2009), gắn kết lý thuyết mô hình Kim cương của Michael Porter với thực tiễn cụ thể của nền kinh tế Việt Nam. Công trình đã vạch rõ lộ trình chuyển dịch tất yếu từ lợi thế so sánh tĩnh (dựa trên tài nguyên và nhân công rẻ) sang lợi thế cạnh tranh động (dựa trên chế biến sâu, kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ), cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa chính sách vĩ mô của Nhà nước và chiến lược vi mô của doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số điểm hạn chế do chính tác giả thẳng thắn thừa nhận và giới hạn khách quan của thời điểm nghiên cứu:

  • Tác giả tự đánh giá trong lời mở đầu: Các nội dung đề cập trong luận văn chưa thực sự đầy đủ, nhiều vấn đề cần tiếp tục bổ sung và hoàn chỉnh do hạn chế về quỹ thời gian nghiên cứu, trình độ kiến thức chuyên môn của sinh viên và phạm vi nghiệp vụ kinh tế đối ngoại quá rộng lớn.
  • Khóa luận hoàn thành vào tháng 05/2010 nên chuỗi số liệu thống kê chỉ mới phản ánh thực trạng tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến hết năm 2009, chưa đánh giá được toàn diện chu kỳ phục hồi và tái cơ cấu kinh tế thế giới giai đoạn sau đó.
  • Về phạm vi phân tích thực nghiệm, nghiên cứu tập trung dữ liệu thứ cấp ở quy mô ngành hàng chung, chưa tiến hành điều tra khảo sát định lượng sơ cấp đối với từng nhóm doanh nghiệp xuất khẩu cụ thể; phần phân tích thị trường mới chỉ tập trung làm rõ hai đối tác lớn là Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng theo các gợi mở từ văn bản:

  • Bổ sung đánh giá tác động trung và dài hạn của việc thực thi đầy đủ các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam giai đoạn sau năm 2010.
  • Đi sâu nghiên cứu thực nghiệm chuỗi giá trị và năng lực phát triển mạng lưới công nghiệp phụ trợ cho các ngành công nghiệp mũi nhọn như dệt may, da giày, điện tử.
  • Nghiên cứu chính sách vượt qua các rào cản kỹ thuật (TBT, SPS) và các vụ kiện chống bán phá giá tại các thị trường phát triển.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Kinh doanh quốc tế, Thương mại quốc tế: Cung cấp tài liệu tổng quan có hệ thống về lịch sử phát triển ngoại thương Việt Nam từ thời kỳ đầu Đổi mới (1986) đến các năm đầu gia nhập WTO (2009).
  • Người nghiên cứu về chính sách xuất nhập khẩu: Cung cấp khung phân tích vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter trong việc đánh giá lợi thế cạnh tranh của một nền kinh tế đang phát triển.
  • Các nhà quản trị doanh nghiệp xuất khẩu: Cung cấp các định hướng về quản trị chủng loại sản phẩm, chiến lược thích nghi sản phẩm và các tiêu chí lựa chọn thị trường mục tiêu ở cấp vi mô.

Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình là hệ thống chuỗi dữ liệu thống kê cơ cấu hàng hóa xuất khẩu qua các thời kỳ (các bảng số liệu tổng hợp giai đoạn 1991 - 1995, 1996 - 2000, 2001 - 2006) và phần phân tích tác động trực tiếp của việc gia nhập WTO cùng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu giai đoạn 2007 - 2009 đối với kim ngạch các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng khung lý thuyết nào để phân tích cơ sở lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu?
Khóa luận sử dụng mô hình khối Kim cương của Michael Porter (1990) về Lợi thế cạnh tranh quốc gia. Mô hình phân tích 4 nhóm yếu tố nền tảng gồm: Điều kiện các yếu tố sản xuất (nguồn lực đầu vào), Điều kiện về cầu trong nước, Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan, Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh ngành; cùng với 2 yếu tố tác động là chính sách của Chính phủ và yếu tố Cơ hội.

2. Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chuyển biến như thế nào qua các giai đoạn 1991 - 1995, 1996 - 2000 và 2001 - 2006?
Cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch rõ rệt theo hướng giảm tỷ trọng hàng thô và tăng hàng chế biến:

  • Giai đoạn 1991 - 1995: Hàng thô và sơ chế chiếm tới 85%; nông, lâm, hải sản chiếm 52,3% năm 1991.
  • Giai đoạn 1996 - 2000: Nông, lâm, hải sản giảm từ 42,5% (1996) xuống 29,0% (2000); công nghiệp nặng và khoáng sản tăng từ 28,1% lên 37,1%; công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 29,0% lên 33,9%.
  • Giai đoạn 2001 - 2006: Nông, lâm, thủy sản tiếp tục giảm từ 24,3% (2001) xuống 20,5% (2006); nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ vươn lên chiếm 39,0% vào năm 2006.

3. Sau khi gia nhập WTO, danh mục các mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của Việt Nam thay đổi ra sao trong các năm 2007 - 2009?
Việc gia nhập WTO đã tạo bước nhảy vọt về quy mô:

  • Năm 2007: Có 10 mặt hàng/nhóm hàng đạt trên 1 tỷ USD (4 mặt hàng vượt 3 tỷ USD: dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản; 2 mặt hàng vượt 2 tỷ USD: điện tử và sản phẩm gỗ).
  • Năm 2008: Dầu thô đạt kỷ lục 10,5 tỷ USD; dệt may đạt 9,1 tỷ USD; giày dép đạt 4,7 tỷ USD; thủy sản đạt 4,56 tỷ USD; bổ sung thêm mặt hàng dây và cáp điện vượt 1 tỷ USD.
  • Năm 2009: Xuất hiện 12 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên, bao gồm: dệt may, dầu thô, thủy sản, giày dép, đá quý - kim loại quý, gạo, điện tử - máy tính, gỗ, máy móc thiết bị phụ tùng, cà phê, than đá, cao su.

4. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 đã tác động như thế nào đến các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2009?
Khủng hoảng kinh tế làm thu hẹp thị trường và giảm giá hàng hóa toàn cầu. Nhiều mặt hàng của Việt Nam giảm mạnh kim ngạch như dầu thô, giày dép, cao su, cà phê, gỗ, thủy sản, mây tre đan, đồ gốm sứ. Tuy nhiên, một số mặt hàng vẫn vượt chỉ tiêu, điển hình là gạo tăng trưởng 24,4% so với kế hoạch; tổng kim ngạch nhóm nông, lâm, thủy sản vẫn đạt khoảng 15 tỷ USD; dệt may đạt xấp xỉ 9,1 tỷ USD và da giày đạt 4,1 tỷ USD.

5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp vĩ mô chủ yếu nào đối với Nhà nước để phát triển xuất khẩu?
Tác giả đề xuất 8 giải pháp vĩ mô: (1) Hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách; (2) Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu và thông tin thị trường; (3) Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế; (4) Đổi mới chính sách đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư thu hút FDI; (5) Tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ; (6) Thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ; (7) Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; (8) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu thị trường xuất khẩu hợp lý.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoài là một công trình nghiên cứu kinh tế đối ngoại nghiêm túc, tái hiện toàn diện tiến trình lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong hơn 20 năm Đổi mới và giai đoạn bước đầu gia nhập WTO. Bằng việc vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter và chuỗi số liệu thống kê thứ cấp tin cậy, công trình đã làm rõ quy luật chuyển dịch cơ cấu ngoại thương từ thâm dụng tài nguyên sang thâm dụng công nghệ và giá trị gia tăng. Hệ thống định hướng đến năm 2020 và các giải pháp đồng bộ được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác hoạch định chính sách thương mại và chiến lược phát triển thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu.