MỞ ĐẦU Thực tế hoạt động sản xuất chứng minh không nước nào có đủ nguồn gen động thực vật, chính vì vậy việc nhập nội và bổ sung giống loài động thực vật với mục đích làm tăng quỹ gen, tăng sản lượng khai thác, nuôi trồng từ lâu đã được các nước trên thế giới quan tâm. Một số loài đã có tác động tích cực đến đa dạng sinh học tại nơi ở mới và mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho các nước nhập nội. Nhưng cũng có một số loài đã có tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học tại nơi chúng được di nhập và để lại hậu quả xấu cho nền kinh tế các nước nhập khẩu. Trong vài chục năm trở lại đây, hầu hết các nước trên thế giới đã bắt đầu quan tâm tới quản lý giống loài sinh vật ngoại lai.
Nhiều nước như Australia, Nhật Bản đã đề ra các biện pháp như kiểm kê, theo dõi, đánh giá hậu quả môi trường và đa dạng sinh học đối với các loài sinh vật ngoại lai. Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) cũng có chương trình kiểm kê đánh giá hậu quả môi trường đối với các loài sinh vật ngoại lai trong sự phát triển Nông - Lâm - Ngư. Ở Việt Nam, các loài SVNLXH trong những năm vừa qua cũng đã gây ra nhiều tác hại cho các hệ thống thuỷ lợi, nông nghiệp, đa dạng sinh học. và gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế như dịch ốc bươu vàng, cây mai dương.
Các nghiên cứu cho thấy, tất cả các loài sinh vật ngoại lai được phát hiện thấy ở Việt Nam đều là những loài đã được liệt kê trong danh sách “100 SVNLXH xâm lấn nguy hiểm trên thế giới”. Mặt khác, do những yếu tố khách quan về vị trí địa lý, địa hình, điều kiện khí hậu, cùng quá trình hội nhập quốc tế đã tạo nên nguy cơ xâm nhập của các sinh vật ngoại lai xâm lấn vào nước ta là rất cao. Tỉnh Vĩnh Phúc - cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng Châu thổ sông Hồng là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 24,20C, diện tích tự nhiên khoảng 1.231 km2, dân số khoảng 1.014 nghìn người.
Tỉnh có 137 xã, phường, thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Vĩnh Yên (là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh), thị xã Phúc Yên và 7 huyện là Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo, Lập Thạch và Sông Lô. 8 Do đặc điểm vị trí địa lý nên nơi đây hình thành 3 vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và miền núi, cùng với nguồn tài nguyên nước mặt, nước dưới đất tương đối dồi dào, do vậy hết sức thuận tiện cho phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch - dịch vụ. Việc phát triển nông – lâm – ngư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cũng nằm trong tình trạng chung của cả nước về việc phải đối mặt với sinh vật ngoại lai xâm hại và tác động của chúng đối với sản xuất và bảo tồn đa dạng sinh học. Đặc biệt, tỉnh Vĩnh Phúc với nhiều hệ sinh thái đặc thù với cảnh quan môi trường và đa dạng sinh học phong phú, nhưng cũng chứa đựng các mối đe dọa, rủi ro từ sinh vật ngoại lai như hệ sinh thái thủy sinh ở các đầm, hồ và cây trồng vật nuôi nông nghiệp, cây rừng.
Song cho đến nay tại Vĩnh Phúc chưa có nghiên cứu nào để thống kê, đánh giá cũng như dự báo các tác động từ sinh vật ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh. Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuấ t giải pháp kiểm soát sinh vật ngoại ngoại lai xâm hại ở Vĩnh Phúc” là cần thiết và sẽ tạo nền tảng để triển khai các hoạt động nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu, tiến đến loại bỏ và kiểm soát chặt chẽ các loài sinh vật ngoại lai xâm hại, sinh vật ngoại lai có nguy cơ xâm lấn tại Vĩnh Phúc. Mặt khác, còn làm cơ sở phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, thực hiện công ước đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học. Luận văn bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Địa điểm, thời gian và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và kiến nghị 9 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Giải thích từ ngữ * Dịch hại là những loài, chủng, dạng (sinh học, sinh lý, sinh thái) của thực vật, động vật hoặc vi sinh vật gây hại cho cây trồng, cây rừng, vật nuôi và các sản phẩm nông lâm nghiệp, thủy sản. * Di chuyển sinh vật có chủ định là sư di chuyển các loài sinh vật đến một khu vực mới do con người thực hiện vì một mục đích xác định như: làm nguồn thực phẩm, làm vật trang trí hoặc vì các mục đích khoa học v. * Di chuyển sinh vật không chủ định là sự di chuyển các loài sinh vật đến một vùng mới do con người thực hiện một cách vô tình, ngẫu nhiên và không có chủ định trước. * Giải phóng sinh thái là sự thoát khỏi các tác động kìm hãm của các yếu tố sinh thái đối với sinh vật.
* Giống (cây trồng, vật nuôi, thủy sản) mới là những giống (cây trồng, vật nuôi, thủy sản) lần đầu tiên được tạo ra, hoặc lần đầu tiên được nhập vào trong nước. * Loài ngoại lai là lai loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực lớn không phải là môi trường sống tự nhiên của chúng. * Sinh vật ngoaị lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng tại nơi chúng xuất hiện và phát triển. * Khả năng trở thành sinh vật ngoại lai xâm hại là khả năng của một loài sinh vật vượt ra ngoài phạm vi phân bố tự nhiên của nó, sinh sống, phát triển và gây hại ở một vùng phân bố mới.
Hiện trạng vấn đề SVNLXH trên thế giới 1. Đánh giá chung về tình hình SVNLXH trên thế giới Tình hình SVNLXH diễn ra ở các nước trên thế giới trong thời gian gần đây đã làm cho các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học đi đến kết luận: “Sự lan rộng của SVNLXH đang tạo ra những thách thức to lớn, lâu dài và phức tạp đe dọa đến đa dạng sinh học tự nhiên của Trái đất và sự thịnh vượng chung của loài người”. 10 Sự lan rộng của SVNLXH hiện nay được ghi nhận là một mối đe dọa lớn nhất đối với các hệ sinh thái và nền kinh tế thế giới. Những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của SVNLXH đối với sức khỏe con người đang ngày càng trở nên nghiêm trọng - Thiệt hại do chúng gây ra cho thiên nhiên thường không thể phục hồi được.
Những tác động có hại của SVNLXH ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn do thay đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu, do những xáo động vật lý, hóa học tác động lên các loài sinh vật và các hệ sinh thái. Quá trình toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế văn hóa đang ngày càng gia tăng với tốc độ nhanh chóng, dẫn đến sự tăng trưởng của thương mại, du lịch, vận chuyển hàng hóa, giao lưu văn hóa. qua biên giới đang làm cho con người gần gũi nhau hơn, kinh tế có điều kiện phát triển hơn. Đây cũng là những hoạt động tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sinh vật lạ, sinh vật xâm hại vượt qua nhiều biên giới quốc gia, lan rộng ra nhiều nước và gây nên những tác hại nghiêm trọng.
Tuy nhiên, do đặc điểm của các quốc gia khác nhau nên tính chất và mức độ nghiêm trọng của SVNLXH đối với các hoạt động kinh tế, xã hội, đời sống, sức khỏe và tài nguyên thiên nhiên ở từng nước khác nhau. Thực trạng SVNLXH trên thế giới và những hoạt động kinh tế - xã hội của con người đã tác động lên các hệ sinh thái nhằm ngăn ngừa tác hại và quản lý nhiều loài sinh vật xâm hại được tóm tắt trong sơ đồ tổng quát về các mối quan hệ giữa các hoạt động kinh tế - xã hội của con người với các SVNLXH xâm hại (hình 1) Việc giải quyết vấn đề này ở từng quốc gia phải có những giải pháp phù hợp với các giá trị, các yêu cầu và ưu tiên của mỗi quốc gia. Nhưng để có thể đảm bảo thu được những kết quả tốt và vững chắc đòi hỏi có sự thống nhất của các nước trên thế giới. Để ngăn chặn có hiệu quả sự di chuyển của SVNLXH trên quy mô toàn cầu cần có sự phối hợp kịp thời, nhịp nhàng giữa các biện pháp của các Chính phủ, các khu vực và cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nhà nước, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước.
Từ những nhận định và đánh giá như đã nêu trên, các nhà khoa học và quản lý trên thế giới đã đưa ra các yêu cầu cấp thiết sau: 11 - Cần nhận thức được SVNLXH là mối đe dọa đối với đa dạng sinh học và an ninh lương thực, sức khỏe và sự phát triển kinh tế. - Cần thiết phải có những hành động thống nhất để ngăn chặn sự lan rộng của SVNLXH, những hành động toàn diện của các quốc gia và trên phạm vi quốc tế. - Phản ứng nhanh chóng mang tính chất quyết định trong việc diệt trừ SVNLXH, dù có khó khăn và tốn kém, nhưng có thể thực hiện được. - Cần phải có các biện pháp ngăn chặn, thu hẹp phạm vi phân bố, kiểm soát sự lan truyền và xem đây những giải pháp cơ bản, thường mang lại lợi ích kinh tế.
12 Hoạt động kinh tế Những thay đổi Áp lực Sự tạo thành và lan rộng - xã hội của con ngƣời trong các yếu tố và điều của các loài sinh vật (công nông nghiệp.) kiện tự nhiên (khí hậu, xâm hại đất, nƣớc.) Sự thay đổi các đặc tính của các hệ sinh thái (đa dạng sinh học, sức sản xuất, Trạng tính bền vững.