CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về văn hóa Trong tử điển văn hóa được định nghĩa là hành vi của những năng lực đạo đức và tư duy phát triển, đặc biệt thông qua giáo dục. Văn là vẻ đẹp nhân tính, cái đẹp của tri thức có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và sự cai trị đúng đắn của người cầm quyền. Hoá là việc đem cái hay, cái đúng, cái đẹp để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn, đời sống.
Nói tới văn hoá là nói tới ý thức, cái gốc tạo nên tính người cùng những gì thuộc về bản chất nhất làm cho con người trở thành chủ thể năng động, sáng tạo trong cuộc sống, lao động sản xuất. Nói tới văn hoá là nói tới những nguồn nội lực để con người có thể gieo trồng (sáng tạo, xây dựng) và điều chỉnh (cải tạo) cuộc sống của mình theo định hướng vươn tới các giá trị chân thiện mỹ. Nó được xem là nền tảng cho sự phát triển ngày càng thăng bằng và bền vững hơn của con người và xã hội. Văn hóa cũng có một số định nghĩa khác như “văn hóa là những nguyên tắc đạo đức, xã hội và hành vi ứng xử của một tổ chức dựa trên những tín ngưỡng, tư tưởng và sự ưu tiên của những thành viên của tổ chức ấy “.
Văn hóa được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau, ở mức chung nhất có thể phân biệt hai cách hiểu: văn hóa theo nghĩa rộng và văn hóa theo nghĩa hẹp. Xét về phạm vi thì văn hóa theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hóa tinh hoa. Văn hóa tinh hoa là một kiểu văn hóa chứa những giá trị đáp ứng các nhu cầu bậc cao của con người. Theo nghĩa này, văn hóa thường được đồng nhất với các loại hành văn học nghệ thuật ,văn chương.
Xét về hoạt động thì văn hóa theo nghĩa hẹp thường được đồng nhất với văn hóa ứng xử. Theo hướng này văn hóa được hiểu là cách sống, cách nghĩ, cách đối xử với người xung quanh. Một trong những định nghĩa đầu tiên được đồng ý rộng rãi do nhà nhân chủng học E.B Tylor (1871), ông xem văn hoá là: “Một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen 8 khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội”. Theo Edouard Herriot định nghĩa có thể nói là rộng nhất về văn hoá là: “Văn hoá là cái còn lại khi tất cả những cái khác đã bị lãng quên”.
Một định nghĩa được sử dụng phổ biến khác, tiệm cận do ông Frederico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra gần hơn với bản chất văn hoá là: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”. Như vậy có thể định nghĩa văn hóa là một hệ thống của các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và xã hội. Là một hệ thống ý nghĩa, văn hóa bao gồm những biểu tượng, những niềm tin và những giá trị nền tảng để dựa theo đó các thành viên trong cộng đồng về phương diện nhận thức có thể diễn tả và đánh giá các hoạt động và các sự kiện khác nhau có thể phân biệt được cái đúng và cái sai, cái tốt và cái xấu, cái đạo đức và cái vô luân, cái có thể và cái không thể chấp nhận được, về phương diện thẩm mĩ có thể phân biệt được cái đẹp và cái xấu, cái hay và cái dở, cái đáng yêu và cái đáng ghét. Hệ thống ý nghĩa ấy đang đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành cộng đồng, ở đó mọi thành viên có thể truyền thông với nhau và cảm thấy có sợi dây liên kết với nhau.
Điều này làm cho tính tập thể trở thành một trong những đặc điểm nổi bật trong những đặc điểm nổi bật của văn hóa, văn hóa là những gì người ta có thể nhận được bằng giáo dục và có thể lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Các đặc trưng của văn hóa Tính hệ thống của văn hóa Mọi sự vật, khai niệm xung quanh ta tự thân đều là những hệ thống. Tuy nhiên văn hóa như một hệ thống lại quá phức tạp, đến mức tính hoàn chỉnh của nó thường bị che lấp bởi các thành tố bộ phận. Do vậy cần thiết nhấn mạnh đến “tính hệ thống” của văn hóa.
Cần xem xét mọi giá trị văn hóa trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Tính hoàn chỉnh cho phép phân biệt một nền văn hóa hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị văn hóa. 9 Tính giá trị của văn hóa Song không phải mọi hệ thống đều là văn hóa mà chỉ có những hệ thống giá trị mới là văn hóa. Văn hóa chỉ chứa cái hữu ích, cái tốt đẹp nó là thước đo mức độ nhân bản của con người.
Tính giá trị là đặc trưng quan trọng nhất giúp đi sâu và bản chất của khái niệm văn hóa. Nó cho phép phân biệt văn hóa với cái phi văn hóa, vô văn hóa, phân biệt văn hóa thấp với văn hóa cao, phân biệt văn hóa theo nghĩa rộng và văn hóa theo nghĩa hẹp. Nhờ tính giá trị ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh gía trị của sự vật, hiện tượng, tránh được những xu hướng cực đoan phủ nhận sạch trơn hoặc tán thưởng. Tính nhân sinh của văn hóa.
Văn hóa là sản phẩm của con người. Văn hóa và con người là hai khái niệm không tách rời nhau. Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa đồng thời chính bản thân con người cũng là một sản phẩm của văn hóa. Tính nhân sinh tạo ra những khả năng không có sẵn trong bản thân sự vật, hiện tượng mà được con người gán cho để đáp ứng các nhu cầu của con người, đó là giá trị biểu trưng.
Tính nhân sinh kéo theo tính biểu trưng của văn hóa. Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa với tự nhiên. Văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và gián tiếp của tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, là một “tự nhiên thứ hai”.
Tính lịch sử của văn hóa Tự nhiên được biến thành văn hóa nhờ có hoạt động xã hội sáng tạo của con người mà các giá trị được tích lũy và tạo thành văn hóa. Bản thân các hoạt động cũng chính là các giá trị văn hóa. Sự tích lũy giá trị tạo nên đặc điểm thức 3 của văn hóa là tính lịch sử. Tính lịch sử tạo ra tính ổn định của văn hóa.
Tính lịch sử cần để phân biệt văn hóa như cái được tích lũy lâu đời với văn hóa như cái chỉ trình độ phát triển ở một thời điểm nhất định. Văn hoá doanh nghiệp 1. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Xã hội rộng lớn có một nền văn hóa lớn mà doanh nghiệp là một bộ phận của xã hội. Do đó trong mỗi doanh nghiệp sẽ tồn tại những hệ thống hay chuẩn mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được doanh nghiệp tôn trọng và truyền từ thành viên này sang thành viên khác, từ lớp cũ đến lớp mới, trở thành những giá trị, những quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.
Khái niệm được sử dụng để phản ánh những hệ thống này được gọi với nhiều cái tên khác nhau như văn hóa doanh nghiệp, văn hóa công ty, văn hóa tập đoàn hay văn hóa tổ chức. Mỗi doanh nghiệp có một bản sắc văn hóa doanh nghiệp riêng của mình. Tương tự văn hóa, có rất nhiều quan điểm khác nhau bàn về văn hóa doanh nghiệp. Tất cả các quan điểm đó sẽ giúp ta hiểu về văn hóa doanh nghiệp một cách toàn diện và đầy đủ hơn.
Theo Tổ chức Lao động Quốc Tế (ILO): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt với các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. Theo Nguyễn Mạnh Quân (2011) “Văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và Phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên”. Theo Dương Thị Liễu (2013) “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kính doanh riêng của doanh nghiệp”. Theo Đỗ Minh Cương (2001): “Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tốt văn hóa vào trong các hoạt động kinh doanh của chủ thể, là văn hóa mà các chủ thể tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của nó”.
11 Điểm chung của các định nghĩa trên là “ Văn hóa doanh nghiệp có tính ổn định và bền vững, bất chấp sự thay đổi thường xuyên của các cá nhân, kể cả những người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp”. Nó tác động sâu sắc tới động cơ hành động của doanh nghiệp, tạo thành định hướng có tính chiến lược cho bản thân doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp có vai trò là một lực lượng hướng dẫn, là ý chí thống nhất của tất cả lãnh đạo và cán bộ nhân viên của doanh nghiệp. Dựa trên những nghiên cứu của các học giả, văn hóa doanh nghiệp có thể được định nghĩa như sau: “Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, từ đó trở thành quy tắc, tập quán quen thuộc ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp đồng thời chi phối tình cảm, cách suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích”.
Đặc điểm của văn hóa doanh nghiệp 1. Văn hóa doanh nghiệp tồn tại khách quan Văn hóa rất quan trọng, nó tồn tại độc lập với chúng ta, văn hóa không có nghĩa là cái đẹp, dù ta có nhận thức hay không nhận thức thì nó vẫn trường tồn.