Luận văn: Hoàn thiện kiểm soát chất lượng kiểm toán ngân sách tại KTNN khu vực XIII

Luận văn phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện kiểm soát chất lượng kiểm toán ngân sách địa phương tại Kiểm toán Nhà nước khu vực XIII.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018-2019

119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kiểm soát chất lượng kiểm toán NSĐP và vai trò

Kiểm soát chất lượng kiểm toán ngân sách địa phương (NSĐP) là một trụ cột không thể thiếu nhằm đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính công. Hoạt động của Kiểm toán Nhà nước (KTNN) cung cấp cho Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan chức năng những đánh giá xác thực về tính hợp pháp và hợp lý của thông tin tài chính, làm cơ sở cho các quyết sách quan trọng. Do đó, chất lượng kiểm toán có ý nghĩa quyết định, khẳng định uy tín và hiệu lực của KTNN. Theo Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (INTOSAI), quản lý chất lượng là một định chế bắt buộc. Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán NSĐP không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là nhiệm vụ chính trị, góp phần củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống quản lý nhà nước. Một quy trình kiểm toán được kiểm soát chặt chẽ sẽ giúp phát hiện và ngăn chặn kịp thời các sai sót trọng yếu, nâng cao hiệu quả kiểm toán và đảm bảo các kết luận trong báo cáo kiểm toán là đáng tin cậy. Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo rằng việc quản lý và sử dụng ngân sách địa phương tuân thủ đúng khuôn khổ pháp lý, đặc biệt là Luật Kiểm toán nhà nước, và các chuẩn mực kiểm toán hiện hành.

1.1. Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong minh bạch ngân sách

Hoạt động của Kiểm toán Nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy minh bạch ngân sách và tăng cường trách nhiệm giải trình. Thông qua việc kiểm tra và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các báo cáo quyết toán ngân sách địa phương, KTNN cung cấp thông tin khách quan cho Hội đồng nhân dân (HĐND) và công chúng. Các kết quả kiểm toán giúp HĐND có cơ sở vững chắc để phê chuẩn quyết toán, giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công. Đồng thời, các kiến nghị từ KTNN giúp các đơn vị được kiểm toán khắc phục tồn tại, hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và nâng cao hiệu quả quản lý. Luận văn của Nguyễn Xuân Tĩnh (2019) nhấn mạnh rằng, thông tin kiểm toán là căn cứ tin cậy để các cơ quan nhà nước đề ra quyết sách, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại địa phương.

1.2. Định nghĩa kiểm soát chất lượng theo chuẩn mực KTNN

Chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước số 40 định nghĩa kiểm soát chất lượng kiểm toán là hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động kiểm toán nhằm đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của báo cáo kiểm toán. Đây không phải là một bước riêng lẻ trong quy trình kiểm toán, mà là một chức năng quản lý được thực hiện xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch đến khi phát hành báo cáo. Mục đích của hoạt động này là đảm bảo cuộc kiểm toán tuân thủ pháp luật, chuẩn mực và các quy định chuyên môn, từ đó ngăn ngừa, phát hiện và khắc phục các hạn chế, sai phạm. Một hệ thống kiểm soát chất lượng hiệu quả giúp giảm thiểu rủi ro kiểm toán, đảm bảo các bằng chứng kiểm toán được thu thập đầy đủ, thích hợp, và các kết luận kiểm toán có cơ sở vững chắc.

II. Thách thức trong kiểm soát chất lượng kiểm toán NSĐP

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán NSĐP vẫn đối mặt với không ít thách thức. Các thách thức này xuất phát từ cả yếu tố bên ngoài và nội tại của cơ quan kiểm toán. Về bên ngoài, sự thay đổi liên tục của khuôn khổ pháp lý liên quan đến quản lý ngân sách và đầu tư công đòi hỏi kiểm toán viên nhà nước phải liên tục cập nhật kiến thức. Áp lực từ các đơn vị được kiểm toán và các bên liên quan cũng có thể ảnh hưởng đến tính độc lập và khách quan. Về nội tại, nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chất lượng còn thiếu và yếu. Nghiên cứu tại KTNN Khu vực XIII cho thấy, nhân sự thường phải kiêm nhiệm nhiều công việc, ảnh hưởng đến thời gian và sự tập trung cho công tác kiểm soát. Bên cạnh đó, quy trình kiểm toán và các thủ tục kiểm soát đôi khi còn chồng chéo, chưa phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, dẫn đến việc giải trình và khắc phục kéo dài. Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán đôi khi chưa đủ sâu, làm tăng rủi ro kiểm toán không phát hiện được các sai sót trọng yếu.

2.1. Phân tích các rủi ro kiểm toán trọng yếu trong quy trình

Rủi ro kiểm toán trong kiểm toán NSĐP có thể phát sinh ở cả ba giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện và kết thúc kiểm toán. Ở giai đoạn chuẩn bị, rủi ro đến từ việc khảo sát, thu thập thông tin không đầy đủ, dẫn đến xác định sai trọng tâm, trọng yếu của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn thực hiện, việc thu thập bằng chứng kiểm toán không đầy đủ hoặc không phù hợp, lựa chọn phương pháp kiểm toán sai, hoặc năng lực chuyên môn của kiểm toán viên nhà nước không đáp ứng yêu cầu có thể dẫn đến các kết luận sai lầm. Giai đoạn kết thúc kiểm toán tiềm ẩn rủi ro khi lập báo cáo kiểm toán, nếu các phát hiện không được trình bày rõ ràng, các kiến nghị thiếu tính khả thi hoặc không tuân thủ các quy định về mẫu biểu, hồ sơ.

2.2. Các nhân tố bên trong và ngoài ảnh hưởng đến chất lượng

Chất lượng kiểm toán chịu tác động từ nhiều nhân tố. Nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm tính độc lập của cơ quan KTNN, môi trường pháp lý, trình độ phát triển kinh tế và vai trò của truyền thông. Nhóm nhân tố bên trong mang tính quyết định hơn, bao gồm cơ cấu tổ chức, cơ chế phân công nhiệm vụ, chính sách cán bộ và đào tạo. Đặc biệt, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của đội ngũ kiểm toán viên là yếu tố cốt lõi. Ngoài ra, hệ thống các chuẩn mực kiểm toán, quy trình nghiệp vụ và hiệu quả của công tác giám sát hoạt động kiểm toán nội bộ cũng là những nhân tố trực tiếp quyết định đến kết quả cuối cùng.

III. Giải pháp nhân sự Nâng cao chất lượng kiểm toán viên

Con người là yếu tố trung tâm quyết định đến hiệu quả kiểm toán. Do đó, giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán NSĐP phải bắt đầu từ việc phát triển đội ngũ nhân sự. Cần xây dựng một chính sách cán bộ toàn diện, từ khâu tuyển dụng, đào tạo đến đãi ngộ, nhằm thu hút và giữ chân những cá nhân có năng lực và phẩm chất. Theo đề tài nghiên cứu, KTNN Khu vực XIII cần tiếp tục rà soát, bổ sung quy hoạch công chức lãnh đạo, đồng thời tăng cường đào tạo chuyên sâu cho các kiểm toán viên nhà nước. Các chương trình đào tạo cần tập trung vào những lĩnh vực phức tạp như kiểm toán đầu tư xây dựng, kiểm toán thuế, và kiểm toán các chương trình mục tiêu quốc gia. Việc chuẩn hóa các vị trí chức danh, đặc biệt là chức danh chuyên trách về kiểm soát chất lượng, sẽ giúp nâng cao tính chuyên nghiệp và phân định rõ trách nhiệm giải trình. Bên cạnh kiến thức chuyên môn, cần đặc biệt chú trọng bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp kiểm toán, xây dựng văn hóa liêm chính trong toàn đơn vị để chống lại các áp lực và cám dỗ vật chất.

3.1. Chuẩn hóa chức danh và nâng cao đạo đức nghề nghiệp

Việc chuẩn hóa vị trí, chức danh kiểm soát chất lượng kiểm toán là một giải pháp cấp thiết. Cần xây dựng các tiêu chuẩn rõ ràng về năng lực, kinh nghiệm và phẩm chất cho các cá nhân đảm nhận vai trò này. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng công tác kiểm soát mà còn tạo ra lộ trình phát triển sự nghiệp rõ ràng cho các kiểm toán viên. Song song đó, việc tăng cường giáo dục về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán là vô cùng quan trọng. Các quy tắc về tính độc lập, khách quan, chính trực và bảo mật phải được quán triệt và giám sát chặt chẽ. Việc thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, thảo luận về các tình huống thực tiễn sẽ giúp kiểm toán viên nhận diện và xử lý các xung đột lợi ích một cách chuyên nghiệp.

3.2. Tăng cường đào tạo cập nhật chuẩn mực kiểm toán mới

Môi trường kinh tế và pháp lý luôn biến động, do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được thực hiện thường xuyên và có hệ thống. Cần xây dựng kế hoạch đào tạo hàng năm, bám sát các thay đổi trong Luật Kiểm toán nhà nước và hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Nội dung đào tạo nên kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, tập trung vào các kỹ năng chuyên sâu như phân tích dữ liệu lớn, kiểm toán hoạt động và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Luận văn của Nguyễn Xuân Tĩnh cũng đề xuất việc tổ chức các lớp đào tạo nội bộ do chính các kiểm toán viên giàu kinh nghiệm giảng dạy, giúp chia sẻ kiến thức thực tế và giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quy trình kiểm toán.

IV. Phương pháp hoàn thiện quy trình kiểm soát chất lượng

Bên cạnh yếu tố con người, việc hoàn thiện quy trình kiểm toán và phương pháp kiểm soát là giải pháp mang tính nền tảng. Cần rà soát và tối ưu hóa toàn bộ quy trình, từ khâu chuẩn bị, thực hiện đến lập báo cáo, nhằm đảm bảo sự chặt chẽ, khoa học và giảm thiểu các thủ tục chồng chéo. Một trong những giải pháp trọng tâm là tăng cường công tác kiểm soát ngay từ giai đoạn chuẩn bị kiểm toán. Việc khảo sát, thu thập thông tin và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị phải được thực hiện kỹ lưỡng để xác định đúng các lĩnh vực có rủi ro kiểm toán cao. Trong giai đoạn thực hiện, cần nâng cao chất lượng ghi chép nhật ký và hồ sơ kiểm toán, bởi đây là nguồn bằng chứng kiểm toán quan trọng, phản ánh toàn bộ quá trình làm việc của kiểm toán viên. Cần áp dụng công nghệ thông tin và các phần mềm chuyên dụng để tự động hóa một số thủ tục, hỗ trợ phân tích dữ liệu và nâng cao hiệu quả kiểm toán. Cuối cùng, việc giám sát hoạt động kiểm toán phải được thực hiện một cách thường xuyên, đột xuất thay vì chỉ tập trung vào cuối kỳ.

4.1. Tối ưu hóa giám sát hoạt động kiểm toán từng giai đoạn

Giám sát hoạt động kiểm toán cần được phân cấp rõ ràng và thực hiện hiệu quả ở tất cả các cấp, từ Tổ trưởng, Trưởng đoàn đến lãnh đạo đơn vị. Ở giai đoạn chuẩn bị, cần kiểm soát chặt chẽ việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chi tiết. Trong giai đoạn thực hiện, Tổ trưởng và Trưởng đoàn phải thường xuyên kiểm tra tiến độ, soát xét hồ sơ, nhật ký làm việc của kiểm toán viên để phát hiện và chấn chỉnh sai sót kịp thời. Việc tổ chức các cuộc họp định kỳ của đoàn kiểm toán để trao đổi thông tin và tháo gỡ khó khăn là rất cần thiết. Giai đoạn kết thúc, việc thẩm định dự thảo báo cáo kiểm toán qua nhiều cấp (hội đồng cấp vụ, Vụ Tổng hợp, Vụ Pháp chế) đảm bảo các kết luận và kiến nghị có đầy đủ căn cứ pháp lý và tính khả thi cao.

4.2. Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và bằng chứng kiểm toán

Chất lượng của cuộc kiểm toán phụ thuộc lớn vào chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) của chính cơ quan KTNN và chất lượng của bằng chứng kiểm toán được thu thập. Cần hoàn thiện quy chế kiểm soát nội bộ của đoàn kiểm toán, quy định rõ trách nhiệm của từng thành viên trong việc tuân thủ chuẩn mực kiểm toán và quy trình nghiệp vụ. Đối với bằng chứng kiểm toán, cần đảm bảo hai thuộc tính: tính đầy đủ và tính thích hợp. Kiểm toán viên phải sử dụng các phương pháp đa dạng như kiểm tra, quan sát, phỏng vấn, xác nhận từ bên thứ ba để thu thập bằng chứng từ nhiều nguồn khác nhau. Tất cả bằng chứng phải được lập thành hồ sơ một cách khoa học, logic để phục vụ cho việc soát xét và lưu trữ theo quy định.

V. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn kiểm toán NSĐP

Nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ các đơn vị khác là cách hiệu quả để hoàn thiện công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán NSĐP. Luận văn của Nguyễn Xuân Tĩnh đã phân tích mô hình hoạt động của KTNN Khu vực XI và Khu vực II, từ đó rút ra nhiều bài học giá trị. Một trong những kinh nghiệm nổi bật là việc chuyên môn hóa các phòng nghiệp vụ theo từng lĩnh vực (thu ngân sách, chi ngân sách, đầu tư xây dựng), giúp kiểm toán viên đi sâu vào chuyên môn, nâng cao chất lượng phát hiện. Việc thành lập các tổ kiểm soát chất lượng chuyên trách cho từng cuộc kiểm toán cũng cho thấy hiệu quả tích cực, giúp Trưởng đoàn và lãnh đạo đơn vị nắm bắt kịp thời các vấn đề phát sinh. Tuy nhiên, cũng cần tránh sự chồng chéo trong kiểm soát giữa các cấp. Cần có cơ chế để cấp trên sử dụng và công nhận kết quả kiểm soát của cấp dưới, giảm bớt thời gian giải trình cho kiểm toán viên. Tại KTNN Khu vực XIII, việc áp dụng các bài học này cần được điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù nhân sự và địa bàn quản lý, hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả kiểm toán và chất lượng của báo cáo kiểm toán.

5.1. Kinh nghiệm từ mô hình kiểm soát của KTNN khu vực khác

KTNN Khu vực XI và Khu vực II đã triển khai một số mô hình hiệu quả. Ví dụ, việc phân bổ 20-30% số lượng kiểm toán viên không trực tiếp tham gia đoàn kiểm toán để chuyên môn hóa vào công tác lập kế hoạch và kiểm soát chất lượng đã mang lại kết quả tích cực. Mô hình này giúp giảm thiểu sai sót trong hồ sơ, đẩy nhanh tiến độ phát hành báo cáo kiểm toán. Tuy nhiên, hạn chế được chỉ ra là quy trình kiểm soát đôi khi chưa phân cấp rõ ràng, gây ra sự kiểm soát chồng chéo. Bài học rút ra là cần xây dựng một quy chế kiểm soát chi tiết, phân định rõ nhiệm vụ của từng cấp và cơ chế phối hợp, kế thừa kết quả kiểm soát giữa các cấp để tối ưu hóa nguồn lực và thời gian.

5.2. Đánh giá kết quả và hiệu quả kiểm toán tại khu vực XIII

Tại KTNN Khu vực XIII, công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán đã đạt được những thành quả quan trọng, thể hiện qua số liệu kiến nghị xử lý tài chính hàng năm và những đóng góp trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý tại các địa phương. Các cuộc kiểm toán đã tập trung vào những cơ quan tổng hợp, phát hiện nhiều vấn đề quan trọng về quản lý thu, chi ngân sách. Các bằng chứng kiểm toán được thu thập đầy đủ, có căn cứ pháp lý, giúp các kiến nghị có tính khả thi cao. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại hạn chế như đã phân tích, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ để tiếp tục nâng cao hiệu quả kiểm toán, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Quốc hội và xã hội.

VI. Hướng đi tương lai cho kiểm soát chất lượng kiểm toán

Để công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán NSĐP phát triển bền vững, cần có một tầm nhìn dài hạn và chiến lược đồng bộ. Hướng đi trong tương lai không chỉ giới hạn ở các giải pháp nội bộ mà còn phải gắn liền với việc hoàn thiện môi trường pháp lý và bắt kịp xu thế công nghệ. Việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung Luật Kiểm toán nhà nước và các văn bản dưới luật là yếu tố tiên quyết, tạo ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc và đồng bộ cho hoạt động kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán cần được cập nhật thường xuyên để tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế (ISSAI). Đặc biệt, xu hướng ứng dụng công nghệ 4.0 như Trí tuệ nhân tạo (AI), Phân tích dữ liệu lớn (Big Data) sẽ mở ra cơ hội lớn để nâng cao hiệu quả kiểm toán. Các công cụ này có thể giúp tự động phát hiện các giao dịch bất thường, nhận diện các vùng rủi ro kiểm toán cao và xử lý một khối lượng lớn bằng chứng kiểm toán trong thời gian ngắn. Đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân lực sử dụng công nghệ sẽ là bước đi chiến lược, giúp KTNN thực hiện tốt hơn vai trò "người gác đền" cho ngân khố quốc gia.

6.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo Luật Kiểm toán nhà nước

Một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh, rõ ràng và minh bạch là nền tảng cho mọi hoạt động kiểm toán. Cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định liên quan để giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn. Các quy định về trách nhiệm giải trình của đơn vị được kiểm toán, cơ chế xử lý sau kiểm toán, và chế tài đối với các hành vi không thực hiện kiến nghị kiểm toán cần được làm rõ và tăng cường tính hiệu lực. Việc xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Kiểm toán Nhà nước hoạt động độc lập, khách quan và hiệu quả hơn.

6.2. Xu hướng ứng dụng công nghệ trong hoạt động kiểm toán

Tương lai của ngành kiểm toán gắn liền với công nghệ số. Việc ứng dụng các phần mềm kiểm toán chuyên dụng, các công cụ phân tích dữ liệu không chỉ giúp tăng năng suất lao động mà còn nâng cao khả năng phát hiện các sai sót trọng yếu và hành vi gian lận. KTNN cần xây dựng một lộ trình chuyển đổi số rõ ràng, bao gồm việc đầu tư vào hạ tầng công nghệ, phát triển các ứng dụng phần mềm và quan trọng nhất là đào tạo, nâng cao kỹ năng số cho đội ngũ kiểm toán viên nhà nước. Việc này sẽ giúp hoạt động kiểm toán ngày càng thông minh, chính xác và đáp ứng kịp thời các yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới.

04/10/2025
Luận văn cao học giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán ngân sách địa phương của kiểm toán nhà nước khu vực xiii

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tính đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều tác giả trong nước đã và đang nghiên cứu về công tác kiểm toán NSNN nói chung, kiểm toán NSĐP và hi ệu l ực trong kiểm toán NSNN nói riêng. Trong số những công trình nghiên c ứu đã công bố hiện nay, có cả những công trình nghiên cứu về mặt lý thuy ết và nh ững công trình nghiên cứu về mặt thực nghiệm. - Bài viết: “Tiêu chí đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hi ệu qu ả trong ho ạt động kiểm toán ngân sách bộ, ngành” đăng trên Báo Kiểm toán s ố cu ối tháng 10/2013. Bài viết chỉ ra rằng, một trong những nội dung quan trọng phải thực hiện trước khi tiến hành kiểm toán là phải thiết lập được các tiêu chí ki ểm toán để làm cơ sở so sánh với kết quả thực hiện.

Do đặc thù của từng đơn vị quản lý, sử dụng ngân sách, mỗi đơn vị có quy mô ngân sách và ch ức năng QLNN khác nhau nên không thể thiết lập được bộ tiêu chí chung cho t ất cả các cu ộc ki ểm toán mà chỉ có thể thiết lập tiêu chí cho từng cuộc ki ểm toán riêng bi ệt. Bài vi ết đã đưa ra những nội dung kiểm toán có tính chất chung nh ất khi ki ểm toán báo cáo quyết toán ngân sách, tiền và tài sản nhà nước t ại các b ộ, ngành, đánh giá thực trạng cơ sở thiết lập các tiêu chí kiểm toán đối với từng nội dung c ủa KTNN chuyên ngành II trong thời gian kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước tại các bộ, ngành. - Bài viết “Đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong quản lý, s ử dụng ngân sách, tiền, tài sản Nhà nước khi tiến hành các cuộc kiểm toán” đăng trên Báo Kiểm toán số 9 - 10/2014. Bài viết đánh giá tính kinh t ế, hi ệu qu ả, hi ệu lực trong một cuộc kiểm toán về bản chất là áp dụng loại hình kiểm toán hoạt động trong cuộc kiểm toán đó.

Những năm gần đây, KTNN đã tiến hành nhi ều cuộc kiểm toán chuyên đề, kiểm toán với các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách an sinh xã hội. Với mong muốn đạt được kết quả kiểm toán t ốt, có nhiều kiến nghị hữu ích cho công tác quản lý, điều hành, ngành đã t ừng b ước gắn chặt và áp dụng sâu rộng loại hình kiểm toán hoạt động. Thực ti ễn th ời gian qua cho thấy việc lựa chọn chủ đề kiểm toán, lập kế hoạch ki ểm toán năm đã 4 hướng vào các lĩnh vực Quốc hội, Chính phủ yêu cầu tăng cường qu ản lý giám sát, kiểm tra và lĩnh vực mà dư luận xã hội cho rằng còn nhi ều v ấn đ ề b ất c ập; các kế hoạch kiểm toán đã đề cập rõ đến việc đánh giá tính kinh t ế, hi ệu qu ả, hiệu lực trong các cuộc kiểm toán chuyên đề và đã có nh ững ch ỉ d ẫn đáng k ể v ề kiểm toán hoạt động thông qua việc xây dựng đề cương, hướng dẫn kiểm toán… Bài viết đã đánh giá một số hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đ ưa ra gi ải pháp để nâng cao chất lượng các cuộc kiểm toán của KTNN. - Bài viết: “Kiểm toán chi NSĐP, một số vấn đề cần lưu ý trong ki ểm toán tổng hợp” của tác giả Nguyễn Thị Hương đăng trên website của KTNN.

Bài viết cho biết, qua thực tế kiểm toán chi NSĐP của KTNN, kết quả kiểm toán t ổng h ợp tại Sở tài chính có ý nghĩa quan trọng, giúp cho ki ểm toán viên phát hi ện s ố chi không đúng quy định pháp luật, từ đó đưa ra những kiến nghị về công tác qu ản lý. Theo tác giả, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác ki ểm toán này còn một số nội dung chưa được thực hiện đầy đủ, có trường hợp thi ếu tính pháp lý hoặc chưa có quy trình kiểm toán nên không thể thực hi ện ki ểm toán. Qua đó, tác giả đã đề xuất 3 nhóm giải pháp nhằm nâng cao ch ất l ượng ki ểm toán t ổng hợp tại Sở Tài chính trong kiểm toán chi NSĐP của KTNN. - Chuyên đề: “Đổi mới phương thức kiểm toán báo cáo quyết toán NSĐP, giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng kiểm toán” của tác giả D ương Đình Ngọc đăng trên website của KTNN.

Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra 5 đi ểm h ạn chế trong công tác kiểm toán NSĐP ở Việt Nam trong thời gian qua. Đồng th ời đưa ra 6 nhóm giải pháp nhằm khắc phục những điểm yếu và nâng cao ch ất lượng công tác kiểm toán NSĐP, phục vụ tốt hơn cho HĐND sử dụng kết quả kiểm toán trong quá trình xem xét, quyết định dự toán ngân sách, phê chu ẩn quyết toán ngân sách; Chính phủ, cơ quan QLNN và tổ chức, c ơ quan khác c ủa Nhà nước sử dụng trong công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ của mình theo quy định của luật KTNN. Bên cạnh những bài viết, nhiều tác giả cũng chọn đề tài kiểm toán NSNN làm đối tượng nghiên cứu luận văn thạc sỹ như: 5 - Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Văn Tám đề tài “Hoàn thi ện t ổ ch ức công tác kiểm toán NSĐP tại KTNN khu vực VIII” bảo vệ t ại Đại h ọc Đà N ẵng năm 2010. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Quỳnh đề tài “Hoàn thi ện t ổ ch ức kiểm toán chi thường xuyên trong kiểm toán chi NSĐP tại KTNN khu v ực III” được bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2012.

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Đức Thu đề tài “Hoàn thi ện công tác kiểm toán quyết toán thu - chi ngân sách huyện do KTNN khu v ực III th ực hi ện” được bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng năm 2013. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Võ Tiến Thịnh đề tài “Tổ chức ki ểm toán NSĐP tại KTNN khu vực II” được bảo vệ tại Đại học Nha Trang năm 2014. Nhìn chung có thể thấy có rất nhiều nghiên cứu đến lĩnh vực KTNN, thông qua các nghiên cứu này có thể giúp tác giả xác đ ịnh được khung lý lu ận cho nghiên cứu của mình về công tác kiểm toán NSĐP tại KTNN khu v ực. Tuy nhiên, đến nay chưa có một nghiên cứu nào có liên quan đến hoạt đ ộng ki ểm toán NSĐP tại KTNN khu vực XIII nên tác giả có thể khẳng đ ịnh nghiên c ứu c ủa mình là duy nhất và chưa từng được công bố.2 Tổng quan phạm vi nghiên cứu 1.1 Khái quát kiểm toán Nhà nước khu vực XIII KTNN khu vực XIII được thành lập ngày 20/6/2011 của Tổng KTNN, có chức năng giúp Tổng KTNN tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán vi ệc qu ản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công các tỉnh Đồng Nai, Bình Thu ận, Bình Ph ước và Bà Rịa - Vũng Tàu.

Giai đoạn đầu mới thành lập, KTNN khu vực XIII chỉ có 15 công ch ức đ ược điều động. Đến nay sau gần 9 năm xây dựng và phát tri ển KTNN khu v ực XIII đã có 60 công chức và người lao động (50 công chức, 10 lao động hợp đồng). Cơ c ấu lực lượng lao động theo ngạch công chức gồm: 16 Kiểm toán viên chính (chiếm 32%); 34 Kiểm toán viên (chiếm 68%). Theo chuyên môn đào tạo gồm 37 công chức chuyên ngành kinh tế (chiếm 74%); 13 công ch ức chuyên ngành kỹ thuật (chiếm 26%).

Theo giới tính gồm 42 nam và 08 nữ. Về trình độ 6 chuyên môn: 01 tiến sỹ (chiếm 2%), 16 thạc sỹ (chiếm 32%), 34 kỹ s ư và c ử nhân (chiếm 68%). Về lý luận chính trị: có 06 công chức trình độ lý lu ận chính trị cao cấp; 44 công chức trình độ lý luận chính trị trung c ấp. C ơ c ấu t ổ ch ức c ủa KTNN khu vực XIII về cơ bản đã đáp ứng nhiệm vụ được phân công, gồm: Văn phòng, Phòng Tổng hợp và 03 phòng nghiệp vụ chuyên môn theo các lĩnh v ực kiểm toán (Ngân sách, dự án đầu tư, doanh nghiệp).

- Về qui mô kiểm toán: Năm 2011, ngay sau khi ổn định tổ chức bộ máy, KTNN khu vực XIII với phương châm vừa học vừa làm, thực hiện tốt 02 cu ộc kiểm toán đầu tiên là cuộc Kiểm toán ngân sách, tiền và tài s ản nhà n ước năm 2012 của tỉnh Bình Thuận và cuộc Kiểm toán dự án cải tạo, nâng cấp đ ường ĐT 720 và ĐT 766 tỉnh Bình Thuận. Đến 10/5/2019, qua 9 năm, KTNN khu v ực XIII đã thực hiện 44 cuộc kiểm toán, gồm: + Năm 2012, thực hiện 02 cuộc kiểm toán, gồm: 01 cuộc kiểm toán ngân sách địa phương tại tỉnh Bình Thuận (lồng ghép Chuyên đề kiểm toán kinh phí chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ và kinh phí sự nghiệp môi trường giai đoạn 2009- 2011 của tỉnh Bình Thuận); 01 kiểm toán hoạt động xây dựng và quản lý vốn đầu tư Dự án Cải tạo, nâng cấp đường ĐT720 và ĐT766 tỉnh Bình Thuận. + Năm 2013, thực hiện 03 cuộc kiểm toán ngân sách địa phương tại t ỉnh Bình Phước, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Các cu ộc ki ểm toán NSĐP đều lồng ghép 04 Chuyên đề: Chuyên đề Chính sách BHYT cho ng ười nghèo giai đoạn 2010-2012; Chuyên đề Công tác cấp phép, quản lý nhà nước về khai thác tài nguyên, khoáng sản giai đoạn 2009-2012 của Sở Tài nguyên và Môi trường; Chuyên đề Miễn, giảm, giãn, hoàn, xóa nợ thuế và công tác chống th ất thu NSNN tại Cục Thuế; Kiểm toán việc quản lý, sử dụng vốn Trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2010-2012) + Năm 2014, thực hiện 05 cuộc kiểm toán, gồm: 01 cuộc kiểm toán ngân sách địa phương tại tỉnh Bình Thuận (lồng ghép Chuyên đề Mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2013); 04 cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính và các hoạt động liên quan đến việc sử dụng vốn và tài s ản nhà n ước năm 2013 7 tại Tổng công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai, Tổng công ty B ảo đ ảm an toàn hàng hải miền Nam, Tổng công ty Phát triển Khu công nghiệp và Tổng công ty Cổ phần Đầu tư phát triển xây dựng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ