CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NGOẠI THÀNH 1. Việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên ngoại thành 1. Khái niệm và phân loại việc làm 1. Khái niệm việc làm Đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm việc làm theo các khía cạnh khác nhau: Theo Điều 13, chương II (Việc làm) của Bộ Luật lao động nước CHXHCNVN (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007) quy định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm".
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn 2 điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Hai tiêu thức đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý… thì không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác một hoạt động dù là hợp pháp và có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động.
Vì vậy, “việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hịên vật)”. 5 Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Khoa Kinh tế & Quản lý nguồn nhân lực - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu là:“Việc làm là trạng thái phù hợp về số lượng và chất lượng giữa tư liệu sản xuất với sức lao động, để tạo ra hàng hóa theo yêu cầu của thị trường”. Theo quan điểm này việc làm có các đặc trưng sau: Một là, việc làm là sự biểu hiện quan hệ của 2 yếu tố sức lao động (V) và tư liệu sản xuất (C). Hai là, mang lại lợi ích (vật chất và tinh thần) cho xã hội.
Ba là, việc làm đó là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện mà họ sử dụng để thực hiện hoạt động. Sự phù hợp được thể hiện ở cả hai mặt số lượng và chất lượng. Trạng thái phù hợp này có thể được biểu hiện bằng mối quan hệ tỉ lệ của hai yếu tố này theo phương trình: Việc làm = C/V Trong đó: C: Đơn vị tư liệu sản xuất; V: Đơn vị lao động. Như vậy, chỉ khi ở đâu có sự phù hợp của hai yếu tố sức lao động và tư liệu sản xuất (hoặc phương tiện sản xuất) thì ở đó có việc làm.
Từ mối quan hệ này cho thấy tỉ lệ một đơn vị sức lao động có thể vận hành bao nhiêu đơn vị tư liệu sản xuất (thường biểu hiện ở chỉ tiêu suất đầu tư cho một chỗ làm việc). Tỉ lệ này phụ thuộc vào từng ngành nghề, từng nơi làm việc. Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỉ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… và chi phí về sức lao động (V). Quan hệ tỉ lệ biểu diễn sự kết hợp với trình độ công nghệ sản xuất.
Khi trình độ công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo, có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động. Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để có thể tạo việc làm cho người lao động. Việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là những phạm trù gắn liền với nhau và gắn liền với người có khả năng lao động. Những khái niệm này được hiểu như sau: 6 Thiếu việc làm Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình, là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn.
Thất nghiệp Thất nghiệp là hiện tượng người lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, muốn đi làm nhưng chưa có việc làm. Người có việc làm Theo tài liệu điều tra lao động việc làm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hàng năm: Người có việc làm là những người từ đủ 16 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ điều tra: + Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hay lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật. + Đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình mình. + Đã có công việc trước đó, song trong tuần lễ điều tra tạm thời không làm việc và sẽ trở lại tiếp tục làm việc ngay sau thời gian tạm nghỉ việc.
Người có việc làm được chia làm 2 loại: Người có việc làm đầy đủ và người thiếu việc làm. Người có việc làm đầy đủ: Gồm những người có số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ, hoặc những người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc những người có số giờ nhỏ hơn 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng số giờ qui định. Người thiếu việc làm Theo hướng dẫn điều tra lao động việc làm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì: người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định và có nhu cầu làm thêm giờ (trừ những người có số giờ làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc mà không có việc làm). 7 Người thất nghiệp Theo tài liệu hướng dẫn điều tra lao động, việc làm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hàng năm thì khái niệm người thất nghiệp được hiểu như sau: Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu được làm việc.
Trong luận văn này, tôi đồng tình với khái niệm “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”. Trên cơ sở này sẽ hình thành các dạng việc làm cũng như phân tích các nhân tố ảnh hướng đến hỗ trợ giải quyết việc làm. Phân loại việc làm Trong lý thuyết và cả trong thực tế việc làm được chia làm nhiều hình thức khác nhau. Những hình thức việc làm là các phương pháp tổ chức pháp lý và những điều kiện sử dụng lao động.
Trong khuôn khổ của thị trường lao động quốc gia hoạt động lao động của con người được tổ chức với sự trợ giúp của những hình thức tổ chức pháp lý khác nhau, được phân biệt bởi định mức điều tiết pháp lý thời gian và chế độ ngày làm việc, sự đều đặn của hoạt động lao động, vị trí thực hiện công việc. - Việc làm đầy đủ: trong tư duy và thực tế ở phương Tây, việc làm đầy đủ là tình hình nền kinh tế, mà ở đó tất cả những người mong muốn làm việc có việc làm với mức lương thực tế khống chế. Trong ngữ cảnh này nó được sử dụng đồng nhất như khái niệm “toàn dụng nhân lực”. Trong lý thuyết kinh tế và thực tế người ta còn chia việc làm đầy đủ ra thành nhiều dạng như: việc làm năng suất, hiệu quả và hợp lý.
- Việc làm năng suất có nghĩa là việc làm tạo ra những phúc lợi và dịch vụ hữu ích cả cho xã hội và cả cho từng người lao động. - Việc làm hợp lý là dự đoán sự phân chia một cách tối ưu người đang làm việc theo các ngành sản xuất và các khu vực lãnh thổ của đất nước với mục đích sản xuất ra 8 những sản phẩm và sử dụng những dịch vụ phục vụ cho nhu cầu. - Việc làm hiệu quả là việc làm trong sản xuất sinh lợi nhuận được trang bị kỹ thuật với tổ chức lao động tiên tiến, năng suất lao động cao và đảm bảo chất lượng sản phẩm. Khái niệm việc làm hiệu quả này thường hướng vào sự phát triển toàn diện con người và hoàn toàn chấp nhận được, nhưng nó khá rộng và không có khả năng đo được bằng một chỉ tiêu.
- Việc làm hợp lý: là sự thoả mãn nhu cầu làm việc cho bất cứ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ, nguyện vọng của họ. - Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với các công việc khác. Như vậy, những hoạt động lao động của con người mang lại nguồn thu nhập chính cho bản thân và gia đình họ thì đó là việc làm chính. Hiện nay, các hoạt động lao động được coi là việc làm chính, ví dụ những người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các cơ quan đơn vị bởi vì thời gian và nguồn thu nhập của họ lại chiếm cao hơn so với các công việc làm thêm ngoài giờ của họ.
- Việc làm phụ là việc làm thêm theo nhu cầu hoặc mong muốn của người lao động để kiếm thêm thu nhập ở một công sở khác hoặc là ngay tại chính nơi mình đang làm việc. Việc làm phụ được xếp vào nhóm những công việc kiêm nhiệm cả ở những công sở khác và cả ở nơi đang làm việc; những công việc dịch vụ vào những lúc nhàn rỗi; buôn bán lặt vặt. Trong số nhiều hình thức việc làm khác nhau thì việc làm phụ chiếm một vị trí đặc biệt. Nó gắn với đặc thù bản chất việc làm và cả với tác động mà nó ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường lao động.
Việc làm phụ là hình thức sử dụng lực lượng lao động bổ sung vào hoạt động lao động, hay nói cụ thể là việc làm có thu nhập thêm ở doanh nghiệp (công sở) khác hoặc là ngay tại nơi đang làm việc, mà đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.