Chương 1: Cơ sở lý luận về hàng rào kỹ thuật về môi trường trong thương mại quốc tế và các hiệp định quan trọng về vấn đề này. Chương 2: Pháp luật một số quốc gia điển hình và thực trạng pháp luật Việt Nam về hàng rào kỹ thuật về môi trường trong thương mại quốc tế. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống hàng rào kỹ thuật về môi trường ở Việt Nam. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT VỀ MÔI TRƢỜNG TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ CÁC HIỆP ĐỊNH QUAN TRỌNG VỀ VẤN ĐỀ NÀY 1.
Cơ sở lý luận về hàng rào kỹ thuật về môi trƣờng trong thƣơng mại quốc tế 1. Lịch sử hình thành và phát triển mối quan hệ giữa thương mại và môi trường Sau chiến tranh Thế giới thứ II, kinh tế Thế gới bị tàn phá nặng nề cần phải được tái thiết và phát triển, đặc biệt là các hoạt động thương mại đa biên giữa các nước trở nên sôi động và rất nhiều tranh chấp đã xảy ra. Để giải quyết vấn đề này, các nước có kim ngạch buôn bán lớn trên Thế giới (23 nước, chiếm 1/5 tổng sản lượng mậu dịch Thế giới) đã cùng nhau ký kết một Nghị định thư áp dụng tạm thời "Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại" (GATT 1947) điều chỉnh quan hệ thương mại Quốc tế và chính thức có hiệu lực vào tháng 1/1948. Lợi ích mang lại cho các nước tham gia là rất lớn nên chỉ trong vòng hơn 40 năm đã có 99 nước tham gia, từ chỗ chỉ là một hiệp định chung về thuế quan và thương mại đã trở thành một "tổ chức" thương mại đa phương, quản lý điều hành hơn 80% các cuộc trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ trên toàn Thế giới [31].
Tuy nhiên, do nó chỉ mang tính chất tạm thời và không phải là một tổ chức Quốc tế nên GATT đã bộc lộ những yếu kém trong quá trình điều hành. Vào giai đoạn mới hình thành, GATT 1947 chưa có các quy định cụ thể và rõ ràng để giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi trường. Tại thời điểm đó, vai trò cũng như ảnh hưởng của GATT 1947 đối với việc cân bằng mối quan hệ này khá mờ nhạt, do trên thực tế có rất nhiều quốc gia đã lạm dụng nguyên tắc đối xử quốc gia (National treatment) tại Điều III để đặt ra những yêu cầu về quy chuẩn và kiểm tra kỹ thuật nhằm bảo hộ thương mại nội địa. Như đã biết ở trên, do GATT chỉ mang tính chất tạm thời và không phải là một tổ chức Quốc tế nên nó đã bộc lộ những yếu kém trong quá trình điều hành; vì vậy năm 1960, GATT đã tiến hành điều tra và cho biết, có nhiều vấn đề liên quan đến rào cản thương mại hơn bất cứ biện pháp nào khác.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều quan ngại hơn về tác động của việc phát triển kinh tế đối với sự phát triển của xã hội và môi trường đã xuất hiện. Do vậy, năm 1972, Hội nghị Stockholm về Môi trường Con người đã được tổ chức. Để chuẩn bị cho Hội nghị này, Ban Thư ký của GATT đã tiến hành một nghiên cứu với tên gọi “Quản lý Ô nhiễm Công nghiệp và Thương mại Quốc tế”. Nghiên cứu này tập trung vào những tác động của các chính sách bảo vệ môi trường đối với thương mại quốc tế, thể hiện sự lo ngại rằng các chính sách đó sẽ trở thành vật cản đối với thương mại, và dần dần sẽ hình thành một dạng bảo hộ mới.
Năm 1971, nghiên cứu trên đã được trình tới các quốc gia thành viên của GATT với mục đích khuyến khích các quốc gia xem xét kỹ lưỡng những tác động tiềm tàng của các chính sách môi trường đối với thương mại quốc tế. Sau nhiều trao đổi, một số quốc gia thành viên đề xuất rằng cần có một cơ chế để giúp họ thực hiện việc này một cách toàn diện. Vào thời điểm đó, đã có tiền lệ về một cơ chế như vậy trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đó là Ủy ban Môi trường với chức năng chủ yếu là giải quyết các vấn đề về thương mại và môi trường. Tháng 11/1971, tại cuộc họp Hội đồng Đại diện của GATT, các bên đã thống nhất thành lập Nhóm hoạt động về các Biện pháp Môi trường và Thương mại Quốc tế.
Nhóm này sẽ chỉ được triệu tập theo yêu cầu của các quốc gia thành viên của GATT và không hạn chế việc tham dự của các quốc gia. Tuy nhiên, cho đến năm 1991, không có bất kỳ yêu cầu nào được đưa ra, mặc dù trong giai đoạn từ năm 1971 đến năm 1991, các chính sách môi trường bắt đầu có những tác động đáng kể hơn đối với thương mại quốc tế và ngược lại, sự phát triển mạnh mẽ hơn của dòng chảy thương mại cũng khiến cho tác động của thương mại đến môi trường ngày càng trở nên rõ rệt. Tại Vòng đàm phán Tokyo (1973-1979), một trong những vấn đề được quan tâm nhất là đến mức độ nào thì các biện pháp môi trường (dưới dạng các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật) sẽ tạo ra trở ngại đối với thương mại. Các bên đã thương lượng về “Bộ các Tiêu chuẩn” (Standards Code), trong đó kêu gọi không phân biệt 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đối xử và phải đảm bảo tính minh bạch trong việc soạn thảo, thông qua và áp dụng các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Vào năm 1982, một số quốc gia đang phát triển đã bày tỏ mối quan ngại về việc các sản phẩm bị cấm tại những quốc gia phát triển vì lý do gây ô nhiễm môi trường hoặc gây ảnh hưởng đến sức khỏe vẫn tiếp tục được xuất khẩu đến các quốc gia này. Do chỉ có rất ít thông tin về những sản phẩm đó nên các quốc gia đang phát triển không thể đưa ra quyết định chính xác về việc có nhập khẩu chúng hay không. Vì vậy, tại Cuộc họp cấp Bộ trưởng của GATT năm 1982, các quốc gia đã quyết định rằng GATT sẽ xem xét các biện pháp cần thiết để kiểm soát việc xuất khẩu những sản phẩm đã bị cấm trong nước (vì lý do gây nguy hại cho con người, động thực vật hoặc cho môi trường). Kết quả là Nhóm làm việc về việc Xuất khẩu các Sản phẩm bị cấm trong nước và các Vật chất Nguy hại khác đã được thành lập vào năm 1989.
Trong Vòng đàm phán Uruguay (1986-1993), các vấn đề môi trường liên quan đến thương mại tiếp tục được đưa ra bàn bạc và thảo luận. Một trong những kết quả đáng lưu ý nhất của Vòng đàm phán này là sự ra đời của Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật trong Thương mại (“Hiệp định TBT”), được kế thừa từ Bộ các Tiêu chuẩn từ Vòng đàm phán Tokyo. Bên cạnh đó, một số quy định liên quan đến mối quan hệ giữa thương mại và môi trường cũng đã được ghi nhận trong các văn kiện khác của WTO như Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), Hiệp định về các Biện pháp Kiểm dịch Động thực vật (SPS). Vào tháng 4/1994, một Quyết định cấp Bộ trưởng về Thương mại và Môi trường đã được thông qua, kêu gọi sự thành lập của một Ủy ban về Thương mại và Môi trường (Committee on Trade and Environment – “CTE”).Thành phần của CTE bao gồm tất cả thành viên của WTO và một số quan sát viên từ các tổ chức liên chính phủ.
Nhiệm vụ của CTE tương đối rộng, bao gồm việc xác định mối quan hệ giữa các biện pháp thương mại và các biện pháp môi trường nhằm hướng đến phát triển bền vững, và đưa ra những khuyến nghị cần thiết khi có yêu cầu sửa đổi, bổ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sung các quy định trong hệ thống thương mại đa phương. CTE đã họp lần đầu tiên vào đầu năm 1995 nhằm chuẩn bị cho Hội nghị cấp Bộ trưởng tại Singapore. Kể từ đó đến nay, CTE đã duy trì được hoạt động thường xuyên của mình với tần suất khoảng 3 lần mỗi năm. Như vậy, có thể thấy rằng từ GATT 1947 đến nay, vấn đề về mối quan hệ giữa thương mại và môi trường trong WTO càng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ các quốc gia.
WTO cũng đã thực hiện tốt vai trò của mình khi đưa ra được những khung pháp lý nhất định và hình thành được một Ủy ban chuyên trách để giải quyết vấn đề này. Và khái niệm về “ Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong thương mại quốc tế” là một vấn đề cần được quan tâm, chú trọng nghiên cứu để từ đó có những giải pháp định hướng thực tiễn thiết thực. Khái niệm về Hàng rào kỹ thuật về môi trường trong thương mại quốc tế Đề cập tới các rào cản thương mại liên quan đến môi trường, hiện nay giới học giả trên thế giới thường nhắc đến khái niệm “hàng rào xanh”. Tuy vậy, hiện nay chưa có một khái niệm rõ ràng và được thừa nhận rộng rãi về “hàng rào xanh”.
Trong một số ngữ cảnh, khái niệm “Các biện pháp môi trường liên quan đến thương mại” TREMS (trade - related environment measures) được sử dụng. Hội đồng kinh tế của APEC năm 1988 định nghĩa TREMS như sau: “Các biện pháp môi trường liên quan đến thương mại” có phạm vi rất rộng. Chúng mô tả những biện pháp môi trường có tác động đáng kể đến thương mại, bao gồm các luật, quy định và biện pháp hành chính cũng như các thỏa thuận được tạo ra và ký kết”. Theo một số tài liệu, “hàng rào xanh” được định nghĩa là “tất cả các biện pháp liên quan đến thương mại bao gồm tất cả các hạn chế được ban hành bởi một nước hoặc một nhóm nước tác động lên hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác dựa trên các mối quan ngại về môi trường” [1, tr69].
Hàng rào xanh trong thương mại quốc tế bao gồm hàng rào thuế quan và hai loại hàng rào phi thuế quan. Trong đó hàng rào kĩ thuật là dạng thức chính của hàng rào phi thuế quan. Hàng rào xanh được “dựng lên” không ngoài mục đích thu hút sự quan tâm của cộng đồng cũng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như giới doanh nghiệp và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trong nhiều trường hợp, tuy vậy, “hàng rào xanh” cũng được sử dụng để hạn chế xuất khẩu từ các nước đang phát triển có trình độ kĩ thuật thấp hơn.