phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho nhân viên khách sạn. - Chƣơng 2: Thực trạng các biện pháp tạo động lực nhằm giảm thiểu nhân viên nghỉ việc tại khách sạn Sofitel Plaza Saigon. - Chƣơng 3: Hoàn thiện các biện pháp tạo động lực nhằm giảm thiểu nhân viên nghỉ việc tại khách sạn Sofitel Plaza Saigon. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN KHÁCH SẠN 1.
KHÁI NIỆM ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC Thông thƣờng, con ngƣời không hành động vô cớ mà do một hay nhiều động cơ thúc đẩy, có thể nói, động cơ là nguyên nhân của hành động, là định hƣớng và duy trì hành động của một cá nhân. Theo Vroom (1964) thì từ “động lực” có nguồn gốc từ tiếng Latinh movere – có nghĩa là “di chuyển”, động lực là một sƣ̣ thôi thúc tƣ̀ bên trong và nhu cầu đƣơ ̣c tác động của một ngƣời để đạt đƣợc mục đích. Một số lý thuyết khác nghiên cứu về động lực dựa trên nhu cầu cá nhân, giả định rằng con ngƣời có nhu cầu thì dựa vào những nhu cầu này sẽ thôi thúc họ hành động, tiêu biểu là các nghiên cứu của Maslow (1954), McClelland (1961), Herzberg (1966) và Alderfer (1969). Ngoài ra, còn rất nhiều nghiên cứu về động lực, chẳng hạn nhƣ theo Bedeian (1993) thì cho rằng động lực là sự cố gắng của cá nhân để đạt đƣợc mục tiêu, Higgin (1994) thì cho rằng động lực là sự thôi thúc từ bên trong của cá nhân để thỏa mãn những nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn.
Còn Kreitner (1995) thì động lực là một tiến trình thuộc về tâm lý nhằm định hƣớng hành vi cá nhân đến một mục đích nhất định. Donnelly, Gibson, Ivancevich (1995) thì cho rằng sự phấn đấu bên trong nhƣ mong muốn, đam mê. là những điều kiện để tạo nên động lực. Cũng đồng quan điểm này, Mullins (2010) cũng cho rằng động lực của mỗi cá nhân là sức mạnh thôi thúc và tạo ra các kích thích để con ngƣời hoàn thành tốt mục tiêu của mình.
Theo quan điểm của Robbin (2001) thì động lực là một quá trình thỏa mãn nhu cầu, nghĩa là khi con ngƣời hài lòng với một số nhân tố nhất định thì họ sẽ nỗ lực nhiều hơn để thực hiện mục tiêu đó. Còn theo Schulze và Steyn (2003) thì trong công việc, để giám sát thực hiện tốt công việc của mình thì đòi hỏi phải hiểu rõ quan điểm về nhu cầu hay động cơ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nhân viên mình, và từ đó có thể đƣa ra một số giải pháp giúp thay đổi đƣợc hƣớng hành động của nhân viên mình theo hƣớng tích cực hơn. Từ các quan điểm trên cho thấy rằng động lực thƣờng xuất phát từ động cơ của con ngƣời, động lực thúc đẩy động cơ hành động của con ngƣời, nó là trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hƣớng con ngƣời vào những hành động có mục đích. Vậy động lực làm việc của nhân viên trong một tổ chức đƣợc xem nhƣ là những nhân tố có khả năng kích thích tinh thần làm việc tích cực của nhân viên, và do đó, nó thôi thúc nhân viên phấn đấu để hoàn thành công việc một cách tốt đẹp nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định của một tổ chức.
MỘT SỐ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN Các lý thuyết đầu tiên về động viên nhằm tạo động lực cho nhân viên làm việc tốt hơn xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, sau đây là một số điển hình: 1. Mô hình lý thuyết về tháp bậc nhu cầu của Maslow (1943) Nhu cầu tự thể hiện Nhu cầu NHU CẦU Cấp cao BÊN TRONG Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu NHU CẦU Cấp thấp BÊN NGOÀI Nhu cầu sinh lý Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow Abraham Maslow cho rằng hành vi của con ngƣời đếu xuất phát từ nhu cầu và đƣợc sắp xếp theo thứ tự ƣu tiên từ thấp đến cao nhƣ trong Hình 1.1, và do đó, để tạo động lực làm việc cho nhân viên thì đảm bảo rằng ngƣời quản lý phải nhận ra 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rằng nhu cầu của ngƣời này đang ở cấp bậc nào, ngƣời này đang cần đáp ứng điều gì, về vật chất hay tinh thần… Trong thực tế, một khi con ngƣời đƣợc thỏa mãn cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần thì họ có động lực làm việc tốt hơn. Trong năm cấp bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu cấp thấp bao gồm nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn, hai nhu cầu này đƣợc thỏa mãn chủ yếu từ các nhân tố bên ngoài, trong khi đó các cấp bậc cao hơn nhƣ nhu cầu xã hội, nhu cầu đƣợc tôn trọng và nhu cầu tự thể hiện thuộc nhóm nhu cầu bên trong – Tức là những mong muốn của chính bản thân ngƣời đó và cần phải đƣợc thỏa mãn.
Đầu tiên là phải thỏa mãn nhu cầu cấp thấp hay nhu cầu cơ bản nhất của con ngƣời, sau khi các nhu cầu này đƣợc thỏa mãn rồi thì con ngƣời mới có động lực và phát sinh ra những nhu cầu cao hơn, thực tế cho tháy rằng các cấp bậc nhu cầu càng cao thì việc làm thỏa mãn các nhu cầu này cũng càng khó khăn hơn. Mô hình lý thuyết hai nhóm nhân tố của Frederick Herzberg (1959) Frederick Herzberg không dựa vào nhu cầu nhƣ của Maslow để đƣa ra lập luận thuyết động viên của mình mà ông dựa vào mối tƣơng quan giữa công việc và thái độ làm việc của nhân viên, theo ông thì có hai nhóm nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên: Thứ nhất là các nhân tố bên trong (Nhân tố động viên – Factor Motivators) và thứ hai là các nhân tố bên ngoài (Nhân tố vệ sinh – Hygiene Factors hay còn gọi là các nhân tố duy trì). Hai nhóm nhân tố này có ảnh hƣởng riêng biệt đến sự hài lòng của nhân viên, do đó, để tạo động lực làm việc cho nhân viên đòi hỏi ngƣời quản lý cần phải làm thỏa mãn đồng thời cả hai nhóm nhân tố đã nêu trên, thứ nhất là phải đƣa ra các phƣơng cách để nhân viên có động lực làm việc, thứ hai là phải duy trì đƣợc các động lực làm việc đó. Giải thích từ Hình 1.2: - Các nhân tố động viên bên trong (Intrinsic motivators): Bao gồm các nhân tố liên quan đến công việc mà bạn giao cho nhân viên thực hiện.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Các nhân tố vệ sinh bên ngoài hay các nhân tố duy trì (Extrinsic hygiene factors): Bao gồm các nhân tố thuộc về môi trƣờng làm việc nhƣ ngƣời quản lý mong mỏi nhân viên mình làm việc trong các điều kiện nhất định. Thuyết hai nhân tố của Herberzg Nhân tố vệ sinh/Nhân tố duy trì Nhân tố động viên (Nhân tố bên ngoài) (Nhân tố bên trong) 1. Các mối quan hệ với cấp dƣới 3. Trách nhiệm 4.
Cuộc sống cá nhân 4. Quan hệ với đồng nghiệp 5. Điều kiện làm việc 8. Mối quan hệ với cấp trên 9.
Chính sách và quản trị của công ty Nguồn: Robbins S. Mô hình lý thuyết X & Y của D. McGregor (1960) Thuyết quản lý nhân sự X và Y đƣợc Douglas Mc Gregor khởi xƣớng vào những năm 1960, có thể nói, đây là bƣớc khởi đầu cho các học thuyết quản trị nhân lực hiện đại sau này. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thuyết X cho rằng bản chất con ngƣời luôn trốn tránh khi có thể và không thích làm việc, và do đó, cần phải đƣa ra các hình phạt khi họ không làm việc và để động viên họ làm việc thì cần phải đƣa ra các phần thƣởng, thuyết này cũng cho rằng con ngƣời bị kiểm soát thì mới làm việc tốt.
Nói chung, thuyết X là thuyết máy móc và có xu hƣớng tiêu cực về thái độ làm việc của con ngƣời. Do suy diễn tiêu cực về con ngƣời nên các nhà quản lý theo quan điểm thuyết X thƣờng có hành vi tiêu cực trong hành xử công việc, họ không tin tƣởng vào bất kỳ ai và do vậy, họ quản lý chỉ dựa vào hệ thống kỷ luật và giám sát chặt chẽ, họ cho rằng con ngƣời làm việc chỉ vì bản thân họ hay chỉ vì tiền, khi xảy ra rắc rối thì thƣờng đổ lỗi cho ai đó, trong khi đó những yếu tố vô cùng quan trọng nhƣ các chính sách, đào tạo, hệ thống tổ chức, quy trình phục vụ… lại thiếu hay không đƣợc quan tâm đúng mức. Trái ngƣợc với thuyết X, thuyết Y thiên hƣớng tích cực về con ngƣời, thuyết này cho rằng bản chất con ngƣời thích làm việc và không phải lúc nào cũng muốn trốn tránh công việc, con ngƣời làm việc có định hƣớng và gắn liền với sự thỏa mãn mục tiêu của từng cá nhân, con ngƣời luôn có hoài bão và khát vọng, có khả năng tiềm ẩn để đảm trách các công việc có trách nhiệm lớn hơn, khi đƣợc khuyến khích đúng mức, họ sẽ làm việc một cách tự giác, sáng tạo và tự chủ bản thân mình làm việc một cách có ý thức. Bên cạnh đó, thuyết này cũng cho rằng nếu con ngƣời không bị ràng buộc bởi những quy tắc hay luật lệ quá cứng nhắc hay chặt chẽ đến mức căng thẳng, họ sẽ làm việc tốt hơn và cho năng suất lao động cao hơn.
Nhƣ vậy, theo quan điểm của thuyết Y thì trong mỗi con ngƣời luôn tiềm ẩn những năng lực và phẩm chất tích cực, điều quan trọng là các nhà quản lý cần phải biết khơi dậy các tiềm năng đó, tạo điều kiện và truyền cảm hứng làm việc cho họ để họ yêu thích công việc và cống hiến hết mình cho doanh nghiệp mà mình đang làm việc, hay nói cách khác là ngƣời quản lý phải biết tìm mọi phƣơng cách để giải phóng tất cả mọi rào cản để ngƣời lao động đƣợc thể hiện hết bản thân của họ trong công việc. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong thực tế, thuyết Y của Douglas McGregor đƣợc rất nhiều các nhà quản lý hoan nghênh và ứng dụng. Mô hình lý thuyết về sự công bằng của John Stacey Adams (1963) Thuyết về sự công bằng của John Stacey Adams thì cho rằng nhân viên trong một tổ chức mong muốn đƣợc đối xử một cách công bằng, không những họ so sánh công sức mà họ đóng góp với thành quả mà họ nhận đƣợc mà còn “đối chiếu” thành quả của bản thân mình với những gì mà ngƣời khác nhận đƣợc.