CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN 1. Tổng quan về dịch vụ truyền hình trả tiền 1.1 Khái niệm về truyền hình và dịch vụ truyền hình trả tiền Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy lạp và có nghĩa là “xem được từ xa”. Truyền hình được hiểu là một loại truyền thông đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh bằng sóng vô tuyến điện. Truyền hình trả tiền (PayTV) là một ngành kinh doanh các sản phẩm dịch vụ truyền hình mà người dùng phải trả phí để xem được chính các sản phẩm dịch vụ đó.
Như vậy khác với truyền hình quảng bá, để sử dụng truyền hình trả tiền người tiêu dùng phải trả phí cho nhà cung cấp dịch vụ. Điểm khác biệt này đem đến cho người xem có được sự lựa chọn chương phong phú, đa dạng và phù hợp hơn thị hiếu người dùng. Truyền hình trả tiền là sự biến đổi sâu sắc truyền hình từ môi trường đại chúng sang môi trường đáp ứng sở thích riêng của người xem. Dịch vụ truyền hình trả tiền là hoạt động cung cấp dịch vụ truyền dẫn, phân phối nội dung thông tin dưới dạng các chương trình truyền hình trả tiền và các dịch vụ giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đến thuê bao truyền hình trả tiền theo hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc các thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương.
Trong đó chương trình truyền hình trả tiền là các chương trình trong nước, chương trình nước ngoài được cung cấp đến thuê bao truyền hình trả tiền. Các chương trình truyền hình trả tiền có thể được cung cấp trực tiếp (dịch vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo Luận văn cao học: Nghiên cứu xây dựng giải pháp dịch vụ truyền hình theo yêu cầu(VOD) và ứng dụng cho Truyền hình cáp Việt Nam Trang 14 yêu cầu) đến thuê bao truyền hình trả tiền. (Các khái niệm trích trong dự thảo quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền của Bộ Thông tin và Truyền thông trình Thủ tướng chính phủ năm 2009) Đối tượng khách hàng của truyền hình trả tiền: - Khách hàng tiêu dùng cuối cùng: Là các hộ gia đình sử dụng trực tiếp sản phẩm được phân phối bởi nhà cung cấp dịch vụ. - Khách hàng phân phối lại sản phẩm: Khách hàng này mua lại dịch vụ truyền hình trả tiền (Các kênh chương trình) và phân phối lại cho người tiêu dùng cuối cùng.
Ví dụ như khách sạn, nhà thầu dịch vụ chung cư, nhà hàng hoặc là nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền thứ cấp khác. - Khách hàng sử dụng các dịch vụ gia tăng trên hạ tầng mạng truyền hình trả tiền. Đối tượng khách hàng này muốn sử dụng hạ tầng truyền hình trả tiền làm phương tiện quảng bá thông tin sản phẩm dịch vụ của mình đến khách hàng của truyền hình trả tiền. Ví dụ là các doanh nghiệp, tổ chức muốn quảng bá tuyên truyền thông tin sản phẩm, sự kiện hay khai thác dịch vụ SMS trên mạng lưới của truyền hình trả tiền đối với người tiêu dùng cuối cùng của mạng lưới.
Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam - Về Kinh tế: Việt Nam là một nước đang có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định (trung bình tăng 7,5%/năm trong thời gian 2000 - 2007). Vào giai đoạn khủng hoảng Việt Nam vẫn là một trong những nền kinh tế khôi phục nhanh và vẫn cam kết tăng trưởng 5,5 -6,5 %/ năm. Việc nền kinh tế tăng trưởng đồng nghĩa thu nhập của người dân cũng nâng cao, mức sống của người dân được cải thiện. Từ đó nảy sinh những nhu cầu mới làm cho đời Luận văn cao học: Nghiên cứu xây dựng giải pháp dịch vụ truyền hình theo yêu cầu(VOD) và ứng dụng cho Truyền hình cáp Việt Nam Trang 15 sống thêm phong phú, nhất là đối với nhu cầu của người dân ở các khu đô thị lớn, nhu cầu về vui chơi, giải trí, thể thao… tăng lên.
Đây là điều kiện quan trọng để truyền hình trả tiền phát triển. - Về Luật pháp: Trong lĩnh vực truyền hình trả tiền hiện cơ sở luật pháp chỉ có Quyết định 79 của Chính phủ về việc quản lý việc thu các chương trình truyền hình của nước ngoài. Ngoài ra, Bộ Văn hoá thể thao và du lịch quản lý theo luật báo chí còn Bộ Thông tin và Truyền thông phụ trách về và cấp phát tần số, cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia. Về cụ thể, phê duyệt Quy hoạch phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đến năm 2010 với mục tiêu phục vụ nhu cầu, lợi ích của nhân dân; phát triển đi đôi với việc quản lý tốt để bảo đảm Đài Truyền hình Việt Nam là công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, góp phần bảo đảm an ninh chính trị quốc gia trong mọi tình huống và từ 2005 đến 2010, Đài Truyền hình Việt Nam tự đảm bảo về tài chính đối với các dự án đầu tư từ nhóm.
Và hiện nay mới có đang có dự thảo của Bộ Thông tin- Truyền thông quy định cụ thể hơn về hoạt động của truyền hình trả tiền nhưng cuối năm 2009 mới ban hành. - Vì thiếu cơ sở pháp lý quy định về nội dung và kỹ thuật nên việc quản lý không rõ ràng, dẫn đến tình trạng phát triển ồ ạt và cạnh tranh không lành mạnh của các nhà cung ứng. Trước sự phát triển mạnh mẽ của ngành dịch vụ truyền hình trả tiền, cần thiết phải xây dựng và bổ sung các điều luật và các quy định để quản lý hoạt động này. - Về Văn hoá - Xã hội: Việc phát triển nền kinh tế thị trường làm cho nền kinh tế của nước ta tăng trưởng, điều này cũng làm cho đời sống xã hội cũng thay đổi, nhất là trong thói quen tiêu dùng của người dân.
Ngay cả trong lối sống, cách nhìn nhận của người dân về văn hoá, về cái hay, cái đẹp cũng có sự đổi mới. Người tiêu dùng đã cởi mở hơn khi đón nhận các nền văn hóa Luận văn cao học: Nghiên cứu xây dựng giải pháp dịch vụ truyền hình theo yêu cầu(VOD) và ứng dụng cho Truyền hình cáp Việt Nam Trang 16 khác nhau, cũng như có nhiều nhu cầu hơn trong thưởng thức các chương trình truyền hình của các vùng miền hay từ các nước khác nhau trên thế giới. Đây cũng là điều kiện thuận lợi thúc đẩy cho truyền hình trả tiền trong nước có nhiều bước tiếp cận với truyền hình trả tiền thế giới về mặt nội dung cũng như cách thức thực hiện. - Về Công nghệ: Hiện nay khoa học công nghệ phát triển không ngừng, trong lĩnh vực truyền hình ngày nay càng hội tụ với thành tựu phát triển công nghệ thông tin đem lại những phương thức xem truyền hình trả phí mới chất lượng cao hơn và hấp dẫn hơn.
Với đội ngũ nhân lực công nghệ cao đang được đầu tư chú trọng, Việt Nam cũng hoàn toàn có khả năng tiếp cận với những công nghệ tiên tiến nhất trong truyền hình trả tiền như truyền hình phân giải cao, truyền hình theo yêu cầu. Bên cạnh đó các dòng tivi mới trên thị trường hiện nay đều đã hầu hết chuyển sang LCD và đáp ứng chuẩn HD dạng ready hoặc full. Có nghĩa là sẵn sàng đáp ứng cho công nghệ truyền hình trả tiền độ phân giải cao HD. Theo thống kê của GFK, hiện nay thị trường Việt Nam đã tiêu thụ khoảng 500.000 chiếc LCD trên cả nước.
Đây cũng là điều kiện tốt cho việc triển khai dịch vụ truyền hình trả tiền công nghệ tiên tiến tại Việt Nam trong thời gian tới. Phân loại các dịch vụ truyền hình trả tiền 1.1 Các dịch vụ truyền hình cơ bản của Việt Nam Các dịch vụ truyền trả tiền theo kiểu truyền thống và hiện đang phổ cập tại Việt Nam, bao gồm các phương thức phổ biến sau: + Truyền hình cáp vô tuyến MMDS + Truyền hình Cáp hữu tuyến CATV Luận văn cao học: Nghiên cứu xây dựng giải pháp dịch vụ truyền hình theo yêu cầu(VOD) và ứng dụng cho Truyền hình cáp Việt Nam Trang 17 + Truyền hình kỹ thuật số mặt đất + Truyền hình vệ tinh DTH Truyền hình vô tuyến MMDS [2] Hệ truyền hình MMDS_ Multi point Multi channel Distribution System : là loại dịch vụ truyền hình đa điểm, đa đường bằng sóng viba, một loại truyền dẫn mang đầy đủ tính ưu việt về kỹ thuật và kinh tế. Sóng viba ở dải tần rất cao từ 2,5÷2,7 GHz, với độ rộng dải tần từ 6MHz÷8MHz cho mỗi kênh được dùng với tín hiệu analog. Nó cho phép truyền được nhiều chương trình cùng một lúc.
Ngưới ta gọi đó là hệ thống truyền hình MMDS( Viba truyền hình nhiều đường ). Cự ly phủ sóng trung bình từ 1km đến vài chục km. _ Hệ MMDS có thể truyền tải nhiều chương trình cùng lúc, ngoài ra còn có thể truyền và nhận tất cả các dạng tín hiệu truyền hình, kể cả hệ CMAC và D2MAC , các tín hiệu teletex và dữ liệu máy tính. _ Thường người ta có thể phát xen kênh, cứ bỏ một kênh, phát một kênh để khỏi ảnh hưởng đến nhau.
Có thể phát sóng theo kiểu phân cực đứng ( V ) hay phân cực ngang ( H ). Cũng có thể phát cả hai cùng một lúc V và H. Như vậy về phần anten cả thu và phát phức tạp hơn nhiều. Phương thức truyền dẫn này sử dụng môi trường truyền sóng là sóng viba.
Hiện nay phương thức này đã ngưng cung cấp trên thế giới cũng như tại Việt Nam trong hệ thống truyền truyền hình trả tiền do có nhiều nhược điểm như hạn chế vùng phủ sóng, sử dụng dải tần lớn và ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết. Luận văn cao học: Nghiên cứu xây dựng giải pháp dịch vụ truyền hình theo yêu cầu(VOD) và ứng dụng cho Truyền hình cáp Việt Nam Trang 18 Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống truyền hình MMDF Hình 1.2: Sơ đồ thu truyền hình MMDF Truyền hình Cáp hữu tuyến CATV Là một loại hình dịch vụ truyền hình trả tiền sử dụng hạ tầng kỹ thuật mạng cáp với các công nghệ khác nhau (tương tự, số, IPTV) để phân phối nội dung thông tin trên truyền hình trả tiền trực tiếp đến thuê bao truyền hình trả Luận văn cao học: Nghiên cứu xây dựng giải pháp dịch vụ truyền hình theo yêu cầu(VOD) và ứng dụng cho Truyền hình cáp Việt Nam Trang 19 tiền. Phương thức truyền dẫn này được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam với số lượng thuê bao khá lớn.