Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại quốc tế, các thị trường xuất khẩu và mạng lưới giao thương toàn cầu liên tục mở rộng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ biến động phức tạp như khủng hoảng tài chính - tiền tệ, rủi ro chuỗi cung ứng lương thực và sự cạnh tranh gay gắt. Đứng trước môi trường kinh doanh quốc tế nhiều biến động, các doanh nghiệp xuất khẩu đòi hỏi phải có sự hỗ trợ trực tiếp từ phía chính phủ và các tổ chức hỗ trợ thương mại (TSIs) để nâng cao năng lực cạnh tranh và giảm thiểu rủi ro.
Tại Việt Nam, phần lớn các doanh nghiệp chưa đánh giá đầy đủ vai trò của các công cụ hỗ trợ xuất khẩu từ nhà nước và còn nhiều lúng túng khi tiếp cận các dịch vụ này. Đồng thời, bộ máy quản lý nhà nước về xúc tiến xuất khẩu (XTXK) còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chậm đổi mới phương thức và vẫn duy trì một số mô hình hoạt động chưa tối ưu. Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 2007 là năm đầu tiên thực thi các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mở ra nhiều cơ hội mở rộng thị trường nhưng cũng đặt ra áp lực lớn về giảm thuế và cạnh tranh thương mại.
Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xúc tiến thương mại (XTTM), xúc tiến xuất khẩu và vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động XTXK.
- Khảo cứu bài học kinh nghiệm về mô hình tổ chức và chính sách XTXK tại một số quốc gia (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan).
- Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu và công tác hỗ trợ XTXK của chính quyền thành phố Đà Nẵng trong năm 2007.
- Đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh công tác XTXK của chính quyền đối với cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xúc tiến xuất khẩu do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp. Phạm vi không gian tập trung vào địa bàn thành phố Đà Nẵng; phạm vi thời gian tập trung vào số liệu thực tế năm 2007 cùng dữ liệu kinh nghiệm quốc tế các giai đoạn trước đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành kinh tế thương mại quốc tế:
- Khái niệm xúc tiến thương mại và xúc tiến xuất khẩu: Tiếp cận định nghĩa của Philip Kotler về xúc tiến thương mại trong marketing hỗn hợp 4P (Product, Price, Place, Promotion) và mở rộng theo quan niệm của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC). Theo ITC, XTTM bao hàm cả cấp độ vi mô (marketing xuất khẩu ở doanh nghiệp) và cấp độ vĩ mô (chính sách phát triển xuất khẩu của chính phủ và TSIs) trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
- Khái niệm XTXK của chính phủ: Khóa luận sử dụng định nghĩa của Rosson & Seringhaus, xác định XTXK của chính phủ là tập hợp các biện pháp chính sách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm khuyến khích hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, các ngành và toàn bộ nền kinh tế.
- Phân loại 4 nhóm biện pháp XTXK của chính phủ: Bao gồm nhóm biện pháp liên quan đến đầu vào của sản phẩm, nhóm biện pháp liên quan đến đầu ra của sản phẩm, nhóm biện pháp khuyến khích kinh tế vĩ mô và nhóm biện pháp thể chế - tổ chức.
- Mô hình tổ chức XTXK quốc tế: Phân tích cơ cấu và cơ chế vận hành của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO), Tổ chức XTTM và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA), Cục XTXK Thái Lan (DEP), cùng vai trò của các thể chế đa phương như WTO, ITC, ICC, UNCTAD, UNDP.
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê mô tả và phân tích số liệu thứ cấp từ báo cáo tổng kết của Sở Thương mại thành phố Đà Nẵng năm 2007.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu nhằm khái quát hóa kinh nghiệm quốc tế và khung lý thuyết.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu kim ngạch, thị trường và các chỉ số khảo sát thực tế về dịch vụ tư vấn doanh nghiệp.
Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu gồm: Số liệu hoạt động thương mại năm 2007 của Sở Thương mại Đà Nẵng; hệ thống văn bản pháp quy (Luật Thương mại, Quyết định số 1555/1999/QĐ-BTM, Quyết định số 0093/2001/QĐ-BTM của Bộ Thương mại; Thông tư số 45/1999/TT-BTC của Bộ Tài chính; Công văn số 2421/VP-KTN của Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng); dữ liệu thống kê từ các tổ chức quốc tế (GATT, WTO, ITC, DEP, JETRO).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về hoạt động Xúc Tiến thương mại trong lĩnh vực xuất khẩu
Chương 1 làm rõ bản chất, vị trí và vai trò của XTXK trong nền kinh tế mở. Khóa luận phân tích quá trình xuất khẩu tại doanh nghiệp qua các giai đoạn: mở rộng thị trường nội địa, hình thành ý tưởng, xuất khẩu thử nghiệm, đánh giá kết quả và thích ứng thị trường dài hạn. Sự can thiệp của chính phủ và TSIs đóng vai trò giảm thiểu rủi ro thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong từng giai đoạn.
Về kinh nghiệm quốc tế, khóa luận phân tích ba mô hình tiêu biểu:
| Quốc gia |
Tổ chức đại diện / Chính sách trọng tâm |
Cơ chế tài chính & Công cụ hỗ trợ |
Kết quả ghi nhận |
| Nhật Bản |
- Thành lập JETRO (1958) với mạng lưới 35 văn phòng nội địa và 80 văn phòng tại 58 quốc gia. - Ban hành Luật Bảo hiểm tín dụng XK (1950), Luật Kiểm tra XK (1948/1958). - MITI điều phối thiết kế mẫu mã sản phẩm. |
- Ngân hàng XNK Nhật Bản hỗ trợ tài chính trực tiếp và đồng tài trợ. - Hệ thống quỹ bảo hiểm rủi ro xuất khẩu do chính phủ bảo lãnh. - Áp dụng chế độ ưu đãi thuế xuất khẩu. |
Kim ngạch XK tăng từ 820 triệu USD (1950) lên hơn 4 tỷ USD (1960), đạt 19,3 tỷ USD năm 1970. |
| Hàn Quốc |
- Chuyển đổi chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu (thập niên 1960). - Thành lập KOTRA (1962). - Ban hành Luật xúc tiến các ngành công nghiệp xuất khẩu. |
- Điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tăng lãi suất tiền gửi (11% lên 30% năm 1965). - Miễn thuế kinh doanh (1962), giảm 50% thuế thu nhập từ XK (1962-1972). - Tín dụng ưu đãi lãi suất thấp hơn 0,2%. |
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK đạt 35%/năm trong giai đoạn 1963-1969, chủ yếu từ dệt may, da giày. |
| Thái Lan |
- Cục XTXK (DEP) thành lập năm 1952, quản lý 57 văn phòng trong và ngoài nước với 644 nhân sự. - Tổ chức đào tạo chuyên sâu và trao giải thưởng thiết kế bao bì. |
Nguồn kinh phí đa dạng: 1. Ngân sách nhà nước cấp hàng năm. 2. Quỹ XTTM quốc tế (thu 0,5% trị giá XK năm 1981 và 0,5% CIF nhập khẩu năm 1990). 3. Đóng góp từ khu vực tư nhân. |
Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 193 triệu USD (1957) lên 62 tỷ USD (2000), tức tăng hơn 320 lần. |
Từ thực tiễn quốc tế, tác giả đúc kết các bài học: Chiến lược XTXK phải được định vị ở tầm quốc gia với sự tham gia liên bộ ngành; lựa chọn đúng ngành hàng có lợi thế so sánh; gắn kết trực tiếp giữa xúc tiến với cải tiến chất lượng và duy trì sức cạnh tranh sản phẩm.
Chương 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến xuất khẩu của chính phủ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2007
Chương 2 tập trung phân tích cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về thương mại và đánh giá kết quả thực hiện hoạt động xúc tiến xuất khẩu tại Đà Nẵng năm 2007.
Bộ máy Sở Thương mại Đà Nẵng được cơ cấu gồm: Ban Giám đốc, các phòng chức năng (Văn phòng, Phòng Kế hoạch đối ngoại, Phòng Quản lý thương mại, Thanh tra sở), các đơn vị trực thuộc (Chi cục Quản lý thị trường, Trung tâm thông tin XTTM QNĐN, Trung tâm thương mại siêu thị Đà Nẵng, Công ty quản lý các chợ) và các doanh nghiệp trực thuộc (Công ty XNK Đà Nẵng, Công ty TM QNĐN, Công ty CP Thương mại dịch vụ Đà Nẵng, Công ty CP Cung ứng tàu biển Đà Nẵng).
Năm 2007, toàn thành phố có hơn 120 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng hóa:
| Khối doanh nghiệp |
Tỷ lệ số lượng doanh nghiệp (%) |
Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) |
Tỷ trọng kim ngạch (%) |
Tốc độ tăng trưởng so với 2006 (%) |
| Doanh nghiệp địa phương |
53,0% |
153,80 |
33,0% |
+38,5% |
| Doanh nghiệp FDI |
27,6% |
143,70 |
30,4% |
+34,9% |
| Doanh nghiệp Trung ương |
19,4% |
175,05 |
36,6% |
+16,1% |
Tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu theo các nhóm mặt hàng chủ lực năm 2007:
- Hàng may mặc: Đạt 25 triệu sản phẩm (100% kế hoạch), giá trị đạt 141,4 triệu USD (101% kế hoạch), tăng 27,1% so với năm 2006.
- Cà phê: Giá trị đạt 53 triệu USD, đạt 151,4% kế hoạch, tăng 42,2%.
- Hàng thủ công mỹ nghệ và đồ gỗ gia dụng: Giá trị đạt 34,7 triệu USD, đạt 123,9% kế hoạch, tăng 34%.
- Giày da: Đạt 3 triệu đôi (81,1% kế hoạch sản lượng), giá trị đạt 21 triệu USD (70% kế hoạch giá trị), tăng 0,4%.
- Thủy sản: Đạt 92% kế hoạch kim ngạch, giảm 3% so với năm trước.
Thị trường xuất khẩu của Đà Nẵng năm 2007 đã vươn tới 93 quốc gia và vùng lãnh thổ với cơ cấu phân bổ: Châu Á (32%), Châu Âu (31%), Châu Mỹ (29%), Châu Úc, Châu Phi và các vùng lãnh thổ khác (8%). Trong đó, khu vực Châu Mỹ đạt mức tăng trưởng cao nhất (+57%, riêng thị trường Mỹ tăng 53%, Nam Mỹ tăng 286%), Châu Âu tăng 36%, Đông Bắc Á tăng 18%. Ngược lại, một số khu vực sụt giảm như Đông Nam Á (-12%), Tây Á và Trung Đông (-16%), Châu Úc (-40%), Châu Phi (-26%).
Về các hoạt động hỗ trợ cụ thể:
- Kinh phí xúc tiến xuất khẩu: Tổng kinh phí ngân sách hỗ trợ hoạt động XTXK năm 2007 là 109 triệu đồng phục vụ khảo sát thị trường và hội chợ. Mức hỗ trợ tối đa không quá 50 triệu đồng/lần đối với các hạng mục: vé máy bay, công tác phí theo Thông tư 45/1999/TT-BTC, thuê gian hàng hội chợ, thuê trụ sở năm đầu và lệ phí mở văn phòng đại diện ở nước ngoài.
- Sự kiện hội chợ và xúc tiến thương mại: Tổ chức Hội chợ Xuân Bính Tuất 2007, Hội chợ Hành lang Kinh tế Đông Tây (EWEC), Hội chợ Made in Vietnam - Đà Nẵng 2007, Triển lãm Vietbuild 2007, tham gia hội chợ tại Khỏn Kèn (Thái Lan); triển khai hợp tác xúc tiến với Quảng Tây (Trung Quốc), Mukdahan (Thái Lan), Champasak và Densavanh (Lào); xây dựng thương hiệu mắm Nam Ô.
- Hạ tầng và công nghệ: Hoàn thành dự án Trung tâm Hội chợ Triển lãm Đà Nẵng; triển khai cổng giao tiếp thương mại điện tử phối hợp cùng Trung tâm Công nghệ Phần mềm Đà Nẵng (Softech).
- Thủ tục hành chính và kiểm soát thị trường: Cấp 170 giấy phép kinh doanh có điều kiện (77 giấy phép rượu/thuốc lá, 93 giấy phép xăng dầu/gas); cấp 24 giấy phép và cấp mới 3 giấy phép văn phòng đại diện thương nhân nước ngoài; kiểm tra 1.638 vụ việc, xử lý 1.281 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách 2.236 tỷ đồng (trong đó xử phạt vi phạm hành chính là 1.513 tỷ đồng).
Chương 2 cũng chỉ ra những hạn chế lớn qua số liệu khảo sát dịch vụ tư vấn quản trị và xúc tiến:
| Tiêu chí khảo sát |
Phân bổ số liệu thực tế |
| Quy mô hoạt động tư vấn theo địa bàn |
TP. Hồ Chí Minh: 60%; Hà Nội: 33%; Đà Nẵng: 5%; Cần Thơ: 2% |
| Tần suất sử dụng dịch vụ tư vấn của DN |
Sử dụng 1 lần: 61,54%; Sử dụng 2 lần: 8,00%; Sử dụng 6 lần: gần 7% |
| Cơ cấu loại hình DN sử dụng tư vấn |
DN sản xuất: 36%; DN thương mại: 27%; DN dịch vụ: 12% |
| Thứ tự ưu tiên khi chọn nhà tư vấn |
1. Uy tín đơn vị cung cấp; 2. Đạo đức nghề nghiệp; 3. Kinh nghiệm; 4. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Giá dịch vụ bị xếp vào nhóm không quan trọng). |
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu của chính phủ cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Dựa trên các phân tích thực trạng và định hướng thể hiện qua Hình 3.1 (Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường) và Hình 3.2 (Ma trận cấu trúc thương mại điện tử), Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp:
- Hoàn thiện cơ chế chính sách và chiến lược xuất khẩu: Xây dựng chiến lược xuất khẩu theo ngành hàng chủ lực gắn với phân tích thị trường mục tiêu; củng cố cơ chế liên thông một cửa và nâng cao chỉ số minh bạch hóa công tác hành chính.
- Phát triển mạng lưới tổ chức hỗ trợ thương mại (TSIs): Tăng cường phối hợp giữa Sở Thương mại, các trung tâm XTTM, hiệp hội ngành hàng và đơn vị tư vấn; đẩy mạnh tần suất sử dụng dịch vụ tư vấn lặp lại cho doanh nghiệp sản xuất và thương mại.
- Ứng dụng công nghệ thông tin và sàn giao dịch điện tử: Tối ưu hóa giao diện và tính năng của cổng thông tin thương mại điện tử (hợp tác với Softech), kết nối dữ liệu mạng MOT Net với các thương vụ Việt Nam tại nước ngoài.
- Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến trực tiếp: Mở rộng quy mô tổ chức các hội chợ thương mại quốc tế (tận dụng tuyến Hành lang Kinh tế Đông Tây), hỗ trợ kinh phí đưa doanh nghiệp khảo sát thị trường tiềm năng tại Châu Mỹ, Châu Âu và Đông Bắc Á.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa số liệu thực tiễn: Khóa luận cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu kim ngạch xuất khẩu thành phố Đà Nẵng năm 2007 (472,55 triệu USD tổng kim ngạch giữa ba khối doanh nghiệp; trong đó khối địa phương đạt 153,8 triệu USD, FDI đạt 143,7 triệu USD, Trung ương đạt 175,05 triệu USD).
- Phản ánh thực trạng thị trường dịch vụ xúc tiến: Làm rõ sự chênh lệch về quy mô thị trường tư vấn giữa Đà Nẵng (5%) so với TP. Hồ Chí Minh (60%) và Hà Nội (33%), chỉ ra tỷ lệ sử dụng dịch vụ tư vấn lặp lại rất thấp (61,54% chỉ dùng 1 lần).
- Đóng góp về mặt giải pháp: Đề xuất các giải pháp bám sát mô hình tổ chức XTXK hiện đại, kết hợp bài học quản trị kinh phí của DEP (Thái Lan) và mạng lưới xúc tiến của JETRO (Nhật Bản) nhằm nâng cấp năng lực quản lý nhà nước tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi thời gian: Các số liệu khảo sát và báo cáo tập trung chủ yếu vào giai đoạn năm 2007 (thời điểm mới gia nhập WTO), chưa phản ánh được đầy đủ tác động dài hạn của các cam kết hội nhập quốc tế trong các giai đoạn tiếp theo.
- Phạm vi đối tượng hỗ trợ: Các quy định hỗ trợ tài chính từ ngân sách địa phương thời điểm này mới chỉ áp dụng cho doanh nghiệp trực thuộc thành phố quản lý, chưa bao quát khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp Trung ương đóng chân trên địa bàn.
- Hướng mở nghiên cứu: Cần tiếp tục theo dõi biến động cơ cấu thị trường xuất khẩu, đánh giá hiệu quả kinh tế của sàn giao dịch thương mại điện tử và nghiên cứu cơ chế thành lập quỹ xúc tiến thương mại có sự đóng góp của khu vực tư nhân.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên và nhà nghiên cứu: Tài liệu là nguồn tham khảo cho sinh viên các chuyên ngành Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh và Quản lý công khi nghiên cứu về chính sách xúc tiến thương mại địa phương.
- Đối với cán bộ quản lý nhà nước: Cung cấp bức tranh thực tế về cơ chế điều hành, thủ tục hành chính và mô hình tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu ở cấp tỉnh/thành phố.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổng kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hoạt động xúc tiến xuất khẩu tại Đà Nẵng năm 2007 là bao nhiêu?
Tổng kinh phí hỗ trợ XTXK được ghi nhận trong năm 2007 là 109 triệu đồng, được sử dụng cho các hoạt động khảo sát thị trường và tham gia hội chợ thương mại. Mức hỗ trợ tối đa cho mỗi lần thực hiện không quá 50 triệu đồng/doanh nghiệp.
2. Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu của Đà Nẵng năm 2007 phân theo các khối doanh nghiệp như thế nào?
Khối doanh nghiệp Trung ương đạt 175,05 triệu USD (chiếm 36,6% kim ngạch, tăng 16,1%); khối doanh nghiệp địa phương đạt 153,8 triệu USD (chiếm 33,0% kim ngạch, tăng 38,5%); khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 143,7 triệu USD (chiếm 30,4% kim ngạch, tăng 34,9%).
3. Mặt hàng xuất khẩu nào của Đà Nẵng ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao nhất trong năm 2007?
Mặt hàng cà phê ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất, đạt 53 triệu USD (bằng 151,4% kế hoạch, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm trước), tiếp theo là hàng thủ công mỹ nghệ và đồ gỗ gia dụng (tăng 34%) và hàng may mặc (tăng 27,1%).
4. Quỹ xúc tiến thương mại quốc tế của Cục Xúc tiến Xuất khẩu Thái Lan (DEP) được hình thành từ những nguồn thu nào?
Quỹ XTTM quốc tế của DEP được hình thành từ việc thu 0,5% trị giá xuất khẩu (áp dụng từ năm 1981) và thu tiếp 0,5% trị giá nhập khẩu CIF (áp dụng từ năm 1990), dùng để tài trợ thông tin, đào tạo, cải tiến mẫu mã và hội chợ triển lãm.
5. Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tư vấn quản trị lặp lại tại thời điểm khảo sát đạt mức bao nhiêu?
Tỷ lệ doanh nghiệp chỉ sử dụng dịch vụ tư vấn 1 lần chiếm đa số với 61,54%; doanh nghiệp sử dụng 2 lần chiếm 8,00%; và doanh nghiệp sử dụng 6 lần chỉ đạt mức gần 7%, cho thấy mức độ sử dụng lặp lại các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh còn rất thấp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thanh Thuý đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về xúc tiến thương mại và xúc tiến xuất khẩu, đồng thời tổng hợp kinh nghiệm tổ chức XTXK thực tiễn từ các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan. Bằng việc phân tích chi tiết dữ liệu hoạt động thương mại và công tác hỗ trợ của Sở Thương mại thành phố Đà Nẵng năm 2007, công trình đã làm rõ những kết quả đạt được về kim ngạch, mở rộng thị trường cũng như những điểm nghẽn về năng lực tư vấn và quy mô kinh phí hỗ trợ. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, phát triển thương mại điện tử đến nâng cao năng lực mạng lưới TSIs, phục vụ thiết thực cho định hướng phát triển xuất khẩu của địa phương.