Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VĂN THƯ, LƯU TRỮ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CẤP TỈNH Ở HẢI DƯƠNG 1.1 Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ trong các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội ở Hải Dương 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực cho sự phát triển như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì rất khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Tổ chức Liên hợp quốc thì cho rằng nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.
Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tổ chức lao động quốc tế: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.[71,tr40] Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. [18, tr7] Theo chúng tôi, nguồn nhân lực được hiểu là sức mạnh của lực lượng lao động; sức mạnh của cán bộ, công chức, viên chức và đội ngũ người lao động; trong cơ quan, tổ chức. Sức mạnh đó là sự kết hợp của các nhóm yếu tố: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, tâm lý và khả năng cố gắng. Nhân lực của một cơ quan, tổ chức là toàn bộ những khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của cơ quan, tổ chức.
Nhân lực là tổng hoà sức của sức lực, trí lực và tâm lực. Sức lực là sức cơ bắp của con người, nó phụ thuộc độ tuổi, giới, mức sống, chế độ dinh dưỡng. Trí lực là yếu tố phản ánh khả năng nhận thức, tư duy, là những thuộc tính và trí tuệ giúp con nguời năm được tri thức, hoạt động dễ dàng có hiệu quả trong các hoạt động khác nhau, đó là năng lực trí tuệ. Nhân lực còn được gọi là lao động sống, là một đầu vào độc lập có vai trò quyết định các đầu vào khác của quá trình hoạt động của tổ chức.
Quy mô, cơ cấu nhân lực và yêu cầu về chất lượng nhân lực của tổ chức phụ thuộc vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ được quy định và tính chất, đặc điểm của từng loại hình cơ quan, tổ chức.2 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực - Đào tạo: Là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định. [77,tr382] Là quá trình học tập để làm cho người lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác. - Đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đem lại những sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để con người có thể đảm nhận một công việc mới trong một thời gian thích hợp.
- Là quá trình học tập nhằm, mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức. Khi nói đến đào tạo nguồn nhân lực là nói đến việc trang bị cho người lao động: Kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên nghiệp, kiến thức quản lý. Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của cơ quan, tổ chức và sự phát triển chức năng của con người. Đào tạo nguồn nhân lực được thực hiện trong quá trình: học việc, học nghề, hành nghề.
Kết quả của quá trình đào tạo nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực.2 Nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ trong cơ quan, tổ chức 1.1 Nguồn nhân lực trong các cơ quan, tổ chức Nguồn nhân lực của các cơ quan, tổ chức hiện nay gồm có công chức nhà nước và viên chức nhà nước Công chức nhà nước: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh của Đảng cộng sản Việt Nam, cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.2] Công chức nhà nước được bổ nhiệm vào các ngạch khác nhau tuỳ theo 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình độ chuyên môn và tính chất công việc được phân công thực hiện. Ngạch công chức là khái niệm chỉ một chức danh công chức. Mỗi ngạch công chức thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ trong cơ cấu bộ máy Nhà nước thuộc hệ thống quản lý Nhà nước, có tên gọi (chức danh) riêng; có tiêu chuẩn nghiệp vụ. Công chức Nhà nước được xếp ngạch bao gồm cả công chức lãnh đạo và công chức chuyên môn nghiệp vụ.
Việc xếp ngạch, chuyển ngạch cho công chức được thực hiện căn cứ vào vị trí làm việc thực tế của công chức và tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch đó. Chức danh và tiêu chuẩn chung của các ngạch công chức là cơ sở cho việc xác định vị trí làm việc cụ thể, xác định nhu cầu về các loại chuyên gia phù hợp, đồng thời làm căn cứ để tuyển dụng, xây dựng nội dung, chương trình và phương thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm và đánh giá công chức trong cơ quan, các chức danh công chức Nhà nước gồm: + Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên + Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương + Công chức ngạch chuyên viên và tương đương + Công chức ngạch cán sự và tương đương + Công chức ngạch nhân viên và tương đương Việc chuyển từ chức danh công chức đang giữ lên chức danh cao hơn (nâng bậc công chức Nhà nước) được thực hiện thông qua hình thức thi nâng bậc công chức và được áp dụng khi công chức đã có đủ thời gian giữ chức danh thấp hơn, đủ tiêu chuẩn chuyên môn của chức danh chuẩn bị bổ nhiệm và có đủ thời gian giữ chức danh hiện tại theo quy định Viên chức nhà nước: Viên chức nhà nước là loại nhân lực được huy động và sử dụng trong các vị sự nghiệp công lập là các tổ chức được cơ quan có thẩm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.1] Việc tuyển dụng, đào tạo, chuyển ngạch và nâng ngạch cho viên chức Nhà nước được thực hiện tương tự như đối với công chức Nhà nước. Do viên chức không trực tiếp thực hiện quyền lực Nhà nước như công chức, nên công tác quản lý viên chức được thực hiện dưới hình thức hợp đồng lao động.2 Nguồn nhân lực văn thư, lưu trữ trong cơ quan, tô chức Công chức, viên chức văn thư, lưu trữ trong các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị xã hội cấp tỉnh ở Hải Dương (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) gồm nhân lực được sử dụng làm công tác văn thư, lưu trữ được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.