đặt vấn đề huy động vốn lên hàng đầu. Tài sản nợ là những khoản tiền mà người dân gửi vào, Ngân hàng đi vay của NHTW, các tổ chức tín dụng khác, các doanh nghiệp. - Tài sản nợ của Ngân hàng tập trung vào các nhóm chủ yếu sau đây: + Vốn pháp định hay vốn điều lệ + Tiền gửi không kỳ hạn + Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. + Các khoản vay trên thị trường tiền tệ + Các khoản vay của NHTW hay các TCTD khác Vốn pháp định hay còn gọi là vốn điều lệ là điều kiện bắt buộc trước khi các Ngân hàng được phép hoạt động và được ghi rõ trong điều lệ hoạt SV: NguyÔn Kim Dung Líp: NHG_K9 Chuyên đề tốt nghiệp 5 Khoa: Ngân hàng động của NHTM.
Vốn điều lệ phải bằng ít nhất vốn pháp định do NHNN công bố vào đầu mỗi năm tài chính. Số vốn điều lệ nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô và phạm vi hoạt động của Ngân hàng. Vốn điều lệ sẽ được tăng và bổ sung dưới các hình thức như: Huy động thêm vốn từ các cổ đông. Nó được sử dụng để mua sắm thêm động sản, bất động sản, trang thiết bị cho hoạt động của Ngân hàng.
Nó còn được dùng để góp vốn liên doanh, mua cổ phần của các công ty khác. Như vậy, đến khi hoạt động vốn điều lệ của Ngân hàng sẽ nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi, xe cộ, dữ trữ hay kỹ quỹ tại NHNN… Ngân hàng còn có những quỹ khác buộc phải trích lập trong quá trình hoạt động của mình: Quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi. Những nguồn vốn này là vốn tự có của Ngân hàng, nó vô cùng quan trọng vì qua đó sẽ thấy được thực lực, quy mô của Ngân hàng, nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là vốn tạo sự uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng. - Nghiệp vụ ký thác: do khách hàng gửi vào để lại trong tài khoản của họ ở Ngân hàng theo hai mục đích đó là: Hưởng lãi suất (tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm) và hưởng các dịch vụ của Ngân hàng và tạo quan hệ với Ngân hàng ( tiền gửi không kỳ hạn) - Nghiệp vụ đi vay: sau khi đã sử dụng hết vốn nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả cho khách hàng, các Ngân hàng thương mại có thể đi vay từ NHNN, các Ngân hàng thương mại khác, vay vốn trên thị trường tiền tệ và vay vốn của các tổ chức nước ngoài.
Vốn đo vay chỉ được chiếm tỷ lệ nhỏ trong kết cấu nguồn vốn của Ngân hàng nhưng nó vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm cho Ngân hàng hoạt động bình thường. Nghiệp vụ có (Sử dụng vốn) Sau khi đã huy động được vốn thì Ngân hàng phải tìm cách để sử dụng vốn có hiệu quả tối đa nhất vì hầu hết các nguồn vốn bên tài sản nợ đều là vốn SV: NguyÔn Kim Dung Líp: NHG_K9 Chuyên đề tốt nghiệp 6 Khoa: Ngân hàng đi vay vì thế mà Ngân hàng phải trả lãi cho các khoản vay ấy. Vì thế để tránh thiệt hại, Ngân hàng phải cho vay hoặc đầu tư ngay vào những dịch vụ sinh lời, như vậy Ngân hàng sẽ thu được lãi để trả lãi vốn vay, thanh toán các chi phí trogn hoạt động cònn lại sẽ là lợi nhuận mà Ngân hàng được hưởng. Tài sản có cho biết những khoản mà thị trường nợ Ngân hàng.
Ngân hàng là chủ nợ và các đối tượng vay là con nợ. Sự khác nhau giữa các loại đầu tư này hình thành lên sự khác nhau trong tài sản có của Ngân hàng, gồm các nhóm sau: - Dự trữ tiền mặt bao gồm: Tiền mặt tại kho của Ngân hàng và tiền gửi tại NHNN. - Đầu tư vào chứng khoán. Nghiệp vụ môi giới trung gian Nghiệp vụ môi giới trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ Ngân hàng khác nhau, chủ yếu là các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt.
- Dịch vụ chuyển khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác cùng một Ngân hàng hay là ở hai Ngân hàng khác nhau thông qua các công cụ như: - Dịch vụ thu hộ hay chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng. - Dịch vụ chuyển tiền từ nơi này sang nơi khác. - Dịch vụ trả tiền lương hộ các doanh nghiệp có nhu cầu. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại.
Nguyên tắc và điều kiện cho vay của NHTM. Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của Ngân hàng để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ hoạt động cho vay mới bù đắp được các chi phí như: chi phí tiền gửi, chui phí quản lý, chi phí kinh doanh, chi phí rủi ro đầu tư, chi phí thuế. Khi nền kinh tế càng phát triển, lượng vốn SV: NguyÔn Kim Dung Líp: NHG_K9 Chuyên đề tốt nghiệp 7 Khoa: Ngân hàng mà Ngân hàng cho nền kinh tế vay cũng càng tăng và các loại hình cho vay cũng trở lên vô cùng đa dạng.
Nguyên tắc cho vay gồm ba nguyên tắc cơ bản: - Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi: Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì mỗi lần cho vay Ngân hàng phải xác định kỳ hạn nợ phù hợp. Khi đến hạn trả nợ, khách hàng phải trả nợ cho Ngân hàng nếu không Ngân hàng sẽ tự động trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng để thu hồi nợ. Nếu tài khoản không đủ số dư thì chuyển nợ quá hạn. Nếu sau một thời gian mà khách hàng vẫn không trả hết nợ thì Ngân hàng sẽ phát mại tài sản bảo đảm của khách hàng.
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: Đây là phương châm hoạt động của Ngân hàng. Khi vốn vay không được sử dụng đúng mục đích như trong “ Giấy đề nghị vay vốn” thì sẽ rất dễ dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng. Khi thực hiện nguyên tắc này, các Ngân hàng thương mại yêu cầu khách hàng phải sử dụng vốn đúng với mục đích ghi trong “ Giấy đề nghị vay vốn bởi vì mục đích đó đã được Ngân hàng thẩm định. Khi Ngân hàng phát hiện việc khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích thì Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn, nếu Ngân hàng không có tiền thì Ngân hàng sẽ chuyển nợ quá hạn.
- Vốn vay phải có tài sản làm bảo lãnh: Tài sản có thể hình thành từ vốn vay của Ngân hàng, là tài sản của người đi vay hoặc có thể là tín chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Các hình thức cho vay của Ngân hàng thương mại. - Căn cứ vào tính thời hạn trong cho vay: ta có tín dụng ngắn hạn có thời hạn dưới một năm, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 01 - 05 năm và từ 5 năm trở lên là tín dụng dài hạn. - Nếu phân theo tài sản làm bảo đảm: Tài sản bảo đảm cho phép Ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi mà nguồn thu thứ nhất từ quá trình sản xuất kinh doanh không có hoặc không đủ.
Có các hình thức bảo đảm sau: Bảo SV: NguyÔn Kim Dung Líp: NHG_K9 Chuyên đề tốt nghiệp 8 Khoa: Ngân hàng đảm từ chính uy tín của khách hàng, bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố.cho vay không cần tài sản bảo đảm. - Nếu phân theo phương thức cho vay ta có cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức. + Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng phải thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. + Cho vay theo hạn mức là mức dư nợ cao nhất mà khách hàng được vay tại Ngân hàng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án và các dịch vụ phục vụ đời sống. - Cho vay hợp vốn: Là hình thức cáp tín dụng trên cơ sở nhiều Ngân hàng cùng cho vay đối với một dự án hay phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một Ngân hàng đứng ra làm đầu mối, dàn xếp và phối hợp với các Ngân hàng khác. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc Ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp nhận cho khách hàng chi vượt số tiền trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ, của NHNN VN. Còn một số hình thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với các đIều kiện hoạt động kinh doanh của mỗi Ngân hàng và từng đối tượng khách hàng.
Vai trò của tín dụng ngoài quốc doanh. Tín dụng ngoài quốc doanh đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là sở hữu tư nhân chứ không phải là sở hữu Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường thì kinh tế ngoài quốc doanh đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Nó có tính năng động và nhạy bén trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên với sự hạn chế về quy mô và nguồn vốn. Quy mô và SV: NguyÔn Kim Dung Líp: NHG_K9 Chuyên đề tốt nghiệp 9 Khoa: Ngân hàng nguồn vốn nhỏ dẫn đến hạn chế trong việc tăng cường trang bị vật chất kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm các công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh, hợp tác xã, cá nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các Ngân hàng thương mại luôn tìm mọi cách để mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranh và cuối cùng là để tăng lợi nhuận. Chính vì thế mà khi kinh tế ngoài quốc doanh ra đời, các Ngân hàng không ngần ngại tiếp cận. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động rộng khắp các lĩnh vực của nền kinh tế. Đây là khu vực kinh tế năng động và nhạy bén với thị trường, chịu khó tìm tòi và cải tiến công nghệ.
Với một mạng lưới rộng khắp thì đây là một htị trường tiềm năng, hứa hẹn đem lại lợi nhuận lớn cho các Ngân hàng khi Ngân hàng biết tận dụng. Khi cho vay ngoài quốc doanh, các Ngân hàng không những có thể mở rộng thị trường mà còn giúp Ngân hàng tạo uy tín của mình, bên cạnh đó Ngân hàng có thể đem áp dụng các dịch vụ mới của mình.