CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LÝ LUẬN CỦA KARL MARX VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 1. Nguồn gốc, khái niệm về giá trị thặng dư 1. Khái niệm giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
Giá trị thặng dư được Mác xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và số tiền nhà tư bản bỏ ra trong kinh doanh. Nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến.Tuy nhiên, người lao động sẽ đưa vào hàng hoá một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản trả cho người lao động. Phần dư ra được gọi là giá trị thặng dư, tức là số lượng của hàng hoá mà người lao động làm ra có giá trị cao hơn phần tiền mà nhà tư bản trả cho công nhân và mức chênh lệch đó là giá trị thặng dư. Công thức chung của tư bản Tiền là sản phẩm cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá.
Đồng thời tiền cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản. Song bản thân tiền không phải là tư bản mà tiền chỉ trở thành tư bản khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác. Tiền được coi là tiền thông thường thì vận động theo công thức H-T-H. còn tiền được coi là tư bản thì vận động theo công thức T-H-T.
Ta thấy hai công thức này có những điểm giống và khác nhau: Giống nhau: Cả hai sự vận động đều bao gồm hai nhân tố là tiền và hàng và đều có hai hành vi là mua và bán, có người mua, người bán. Khác nhau: Trình tự hai giai đoạn đối lập nhau (mua và bán) trong hai công thức lưu thông là đảo ngược nhau. Với công thức H-T-H thì bắt đầu bằng việc bán (H-T) và kết thúc bằng việc mua (T-H), bán trước mua sau nhưng tiền chỉ đóng vai trò trung gian và kết thúc quá trình đều là hàng hoá. Ngược lại, với công thức T-H-T thì bắt đầu bằng việc mua (T-H) và kết thúc bằng việc bán (H-T).
ở đây tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc còn hàng hoá đóng vai trò trung gian, tiền ở đây chỉ để chi ra để mua rồi lại thu lại sau khi bán. Vởy tiền trong công thức này chỉ được ứng trước mà thôi. Từ đó ta thấy giá trị sử dụng là mục đích cuối cùng của vòng chu chuyển H-T-H giá trị sử dụng tức là nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định. Như vậy qua trình này là hữu hạn, nó sẽ kết thúc khi nhu cầu được thoả mãn.
Động cơ và mục đích của vòng chu chuyển T-H-T là bản thân giá trị trao đổi trong lưu thông điểm đầu và điểm cuối đều là tiền chúng không khác nhau về chất. Do vậy nếu số tiền thu về bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa. Mà như ta đã biết, một món tiền chỉ có thể khác với một món tiền khác về mặt số lượng. Kết quả là qua lưu thông số tiền ứng trước không những được bảo tồn mà còn tự tăng thêm giá trị.
Nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là T-H-T’. Trong đó T’=T+Δt số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra là Δt, Các Mác gọi là giá trị thặng dư số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn. Từ phân tích trên Mác đã phân biệt rõ ràng tiền thông thường và tiền tư bản.
Tiền thông thường chỉ đóng vai trò trung gian trong lưu thông. Còn tiền tư bản là giá trị vận động, nó ra khỏi lĩnh vực lưu thông rồi lại trở lại lưu thông, tự duy trì và sinh sôi nảy nở trong lưu thông quay trở về dưới dạng đã lớn lên và không ngừng bắt đầu lại cùng một vòng chu chuyển ấy. T-H-T’mới nhìn thì nó là công thức vận động của riêng tư bản thương nghiệp nhưng ngay cả tư bản công nghiệp và cả tư bản cho vay thì cũng vậy.Tư bản chủ nghĩa cũng là tiền được chuyển hoá thành hàng hoá thông qua sản xuất rồi lại chuyển hoá thành một số tiền lớn hơn bằng việc bán hàng hoá đó. Tư bản cho vay thì lưu thông T-H- T’được biểu hiện dưới dạng thu ngắn lại là T-T’ một số tiền thành một số tiền lớn hơn.
Như vậy T-H-T’thực sự là công thức chung của tư bản. Nhưng bên cạnh đó công thức: T-H-T’mâu thuẫn với tất cả các quy luật về bản chất của hàng hóa, giá trị, tiền và bản thân lưu thông. Hàng hóa sức lao động Trong lưu thông có thể có hai trường hợp xảy ra: một là trao đổi tuân theo quy luật giá trị (trao đổi ngang giá); hai là trao đổi không tuân theo quy luật giá trị (trao đổi không ngang giá). • Trường hợp trao đôi ngang giá: Nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ T-H và H-T còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi, trước sau không đổi.
Tuy nhiên về giá trị sử dụng thì cả hai bên đều có lợi.ở đây không có sự hình thành giá trị thặng dư. • Trường hợp trao đổi không ngang giá: Nếu hàng hóa bán cao hơn giá trị của chúng khi đó người bán được lợi một khoản là một phần chênh lệch giữa giá bán và giá trị thực của hàng hóa,còn người mua bị thiệt một khoản đúng bằng giá trị mà người bán được lợi. Còn nếu người bán hàng hoá dưới giá trị của chúng (bán rẻ) thì người mua được lợi một khoản là phần chênh lệch giữa giá trị thực và giá bán của hàng hoá còn người bán bị thiệt một giá trị đúng bằng giá trị mà người mua được lợi. Vậy trong cả hai trường hợp trên cho thấy,nếu người này được lợi thì người kia thiệt nhưng tổng hàng hoá vẫn không tăng lên nên cả hai trường hợp này không hình thành nên giá trị thặng dư.
Tiền đưa vào lưu thông, qua lưu thông thì thu được giá trị thặng dư mà lưu thông không tạo ra giá trị nên không tạo ra giá trị thặng dư, tiền rút khỏi lưu thông làm chức năng lưu thông thì làm chức năng cất trữ thì không thu được giá trị thăng dư.Như vậy cùng với lưu thông và lại không cùng với lưu thông đây chính là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Để giải quyết vấn đề này ta phải đứng trên các quy luật của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Vấn đề cơ bản là nhà tư bản đã gặp trên thị trường một loại hàng hoá đặc biệt mà khi tiêu dùng nó sẽ đem lại giá trị thặng dư đó là sức lao động. Sức lao động và điều kiện tạo ra hàng hoá Sức lao động bao gồm toàn bộ sức thần kinh, sức cơ bắp, thể lực, trí lực tồn tại trong bản thân con người sống, nó chỉ được bộc lộ qua lao động và là yếu tố chủ thể không thể thiếu được của mọi quá trình sant xuất Xã hội.
Sức lao động không phải bao giờ cũng là hàng hoá nó chỉ biến thành hàng hoá khi có đầy đủ hai điều kiện: Thứ nhất: người lao động phải được tự do về thân thể, tự do về năng lực lao động của mìnhvà chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định. Bởi vì sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá khi nó được đưa ta thị trường tức là bản thân người có sức lao động đó đem bán nó. Muốn vậy người lao động phải đựoc tự do về thân thể có quyến sở hữu sức lao động của mình thì mới đem bán sức lao động được. Người sở hữu sức lao động chỉ nên bán sức lao động trong một thời gian nhất định thôi nếu bán hẳn sức lao động đó trong một lần thì người đó sẽ trở thành nô lệ.
Thứ hai: Người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất,muốn sống họ phải bán sức lao động của mình. Vì nếu người lao động được tự do về thân thể mà lại có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hoá và bán hàng hoá do mình sản xuất ra chứ không bán sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hoá,nó cũng xó hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng nhưng nó là hàng hoá đặc biệt vì vậy, giá trị và giá trị sử dụng của nó có những nét đặc thù so với những hàng hoá khác. Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động: Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.
• Giá trị của hàng hoá sức lao động Giá trị hàng hoá sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Mà sức lao động lại gắn liền với cơ thể sống. Do đó việc sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cũng bao hàm việc duy trì cuộc sống của con người đó.Muốn duy trì cuộc sống của bản thân mình, con người cần có một số tư liệu sinh hoạt nhất định. Mặt khác số lượng của những nhu cầu cần thiết ấy, cũng như phương thức thoả mãn những nhu cầu đó ở mỗi một người, nhóm người lao động lại khác nhau,do các yếu tố lịch sử, tinh thần, nên giá trị của sức lao động còn mang tính tinh thần, thể chất lịch sử.
Nhưng những người sở hữu sức lao động có thể chết đi do vậy muốn cho người ấy không ngừng xuất hiện trên thị trường hàng hoá sức lao động thì người bán sức lao động ấy phải trở nên vĩnh cửu bằng cách sinh xon đẻ cái. Vì vậy tổng số những tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế đó tức là con cái của những người lao động. Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vất chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động,duy trì đời sống công nhân.Muốn cho mgười lao động có kiến thức và sức lao động vận dụng khoa học trong một ngành lao động nhất định thì cần phải tốn nhiều hay ít chi phí đào tạo.