Lý luận giá trị thặng dư và ý nghĩa nghiên cứu (ĐH Thương Mại)

Chuyên khảo phân tích Lý luận giá trị thặng dư và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài thảo luận

2022

43
11
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. LÝ LUẬN CỦA KARL MARX VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

1.1.1. Nguồn gốc, khái niệm về giá trị thặng dư

1.1.2. Bản chất của giá trị thặng dư

1.1.3. Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

1.2. LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC TÍCH LŨY TƯ BẢN

1.2.1. Bản chất của tích lũy tư bản

1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản

1.2.3. Hệ quả tích lũy tư bản

1.3. LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.3.1. Địa tô tư bản chủ nghĩa

2. CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU VÀ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

2.2. THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.2.1. Nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư áp dụng vào vấn đề thể chế, chính sách của Nhà nước

2.2.2. Nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư áp dụng vào vấn đề nhân lực tại Việt Nam hiện nay

2.2.3. Nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư áp dụng vào vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào công nghệ tại Việt Nam

2.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.3.1. Những ưu điểm đạt được

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG III. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM

3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI

Tóm tắt

I. Giá trị thặng dư là gì Cách xác định và phân loại giá trị

Giá trị thặng dư là mục tiêu tối thượng của các nhà tư bản, yếu tố then chốt cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ là sản xuất hàng hóa quy mô lớn, mà còn là sự kết hợp của ba quá trình then chốt: sản xuất giá trị sử dụng, sản xuất giá trị, và đặc biệt, sản xuất giá trị thặng dư – mục đích tối đa hóa lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản. Để đạt mục tiêu này, các nhà tư bản mua sức lao động của người công nhân, kết hợp nó với tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm và thu về giá trị thặng dư. Bất kỳ một nền sản xuất nào muốn phát triển, đáp ứng nhu cầu của con người, đều cần tái sản xuất mở rộng và tạo ra sản phẩm thặng dư. Mức độ giàu có của xã hội phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm thặng dư. Xã hội càng tiến bộ, sản phẩm thặng dư càng lớn. Tuy nhiên, chỉ trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị của sản phẩm thặng dư mới thực sự là giá trị thặng dư. Quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản chính là sản xuất ra giá trị thặng dư. Do đó, nghiên cứu về giá trị thặng dư cần tập trung vào nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Câu hỏi đặt ra là: Giá trị thặng dư là gì? Nguồn gốc và bản chất của nó ra sao? Các hình thức chuyển hóa của giá trị thặng dư là gì? Đây là một vấn đề then chốt. Nghiên cứu cần dựa trên quan điểm đúng đắn của học thuyết Mác và thực tiễn kinh tế. Theo Mác, giá trị thặng dư là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và chi phí tư bản bỏ ra. Đây là kết quả của việc nhà tư bản bóc lột sức lao động của công nhân. Bản chất của giá trị thặng dư thể hiện mối quan hệ giai cấp, khi nhà tư bản làm giàu dựa trên lao động của công nhân. Bài viết này sẽ trình bày chi tiết về cơ sở lý luận của giá trị thặng dư theo Mác, thực trạng nghiên cứu lý luận này tại Việt Nam, và đề xuất phương hướng và giải pháp nghiên cứu trong tương lai.

1.1. Nguồn gốc và khái niệm cơ bản về giá trị thặng dư

Theo Mác, giá trị thặng dư là một phần của giá trị mới tạo ra, dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Giá trị thặng dư được xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và số tiền nhà tư bản bỏ ra trong kinh doanh. Nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất (tư bản bất biến) và để thuê sức lao động (tư bản khả biến). Tuy nhiên, người lao động sẽ đưa vào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản trả. Phần dư ra chính là giá trị thặng dư. Công thức chung của tư bản là T-H-T', trong đó T' = T + Δt, với Δt là giá trị thặng dư. Mác phân biệt rõ ràng tiền thông thường và tiền tư bản. Tiền thông thường chỉ đóng vai trò trung gian trong lưu thông, còn tiền tư bản là giá trị vận động, tự duy trì và sinh sôi nảy nở. Tuy nhiên, công thức T-H-T' mâu thuẫn với các quy luật về bản chất của hàng hóa, giá trị, tiền tệ và lưu thông. Để giải quyết mâu thuẫn này, Mác chỉ ra rằng nhà tư bản gặp trên thị trường một loại hàng hóa đặc biệt, khi tiêu dùng nó sẽ tạo ra giá trị thặng dư: đó chính là sức lao động.

1.2. Bản chất kinh tế xã hội của giá trị thặng dư trong xã hội

Nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư cho thấy, nó là kết quả của sự hao phí sức lao động. Quá trình này diễn ra trong quan hệ xã hội giữa người mua và người bán sức lao động. Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư mang bản chất kinh tế - xã hội là quan hệ giai cấp, khi giai cấp tư sản làm giàu dựa trên thuê mướn lao động của giai cấp công nhân. Mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư, và người lao động phải bán sức lao động cho nhà tư bản. Mác nhận thấy có sự bất công sâu sắc về mặt xã hội, khi người lao động bị áp bức với tiền công rẻ mạt, trong khi nhà tư bản không ngừng giàu có. Mác gọi đây là quan hệ bóc lột, mặc dù nhà tư bản không vi phạm quy luật kinh tế về trao đổi ngang giá (trả cho công nhân đúng bằng giá trị sức lao động). Sự giải thích khoa học của Mác đã vượt xa các nhà kinh tế trước đó. Trong điều kiện ngày nay, quan hệ này vẫn diễn ra, nhưng với trình độ và mức độ tinh vi hơn. Tuy nhiên sự bóc lột vẫn là bản chất của giá trị thặng dư.

II. Cách tạo ra giá trị thặng dư Phương pháp sản xuất và tích lũy

Để thu được nhiều giá trị thặng dư, nhà tư bản sử dụng nhiều phương pháp. Mác chỉ ra hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư: tuyệt đối và tương đối. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách tăng năng suất lao động xã hội. Để sản xuất giá trị thặng dư tương đối, cần cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động xã hội. Các doanh nghiệp đi đầu trong đổi mới công nghệ sẽ thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Mặt lượng của giá trị thặng dư biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư, khối lượng giá trị thặng dư, và các hình thức của giá trị thặng dư. Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng giá trị mới, công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm bao nhiêu. Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô của sự bóc lột. Tích lũy tư bản là sự chuyển hóa giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm. Bản chất của tích lũy tư bản là tái sản xuất mở rộng thông qua việc sử dụng giá trị thặng dư. Quy mô tích lũy phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giữa tích lũy và tiêu dùng, trình độ khai thác sức lao động, năng suất lao động xã hội, và hiệu quả sử dụng máy móc. Tích lũy tư bản làm tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản, tăng tích tụ và tập trung tư bản, và làm gia tăng chênh lệch giữa thu nhập của nhà tư bản và người lao động.

2.1. So sánh phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối tương đối

Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi. Để có nhiều giá trị thặng dư, người mua sức lao động phải tìm mọi cách kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động. Tuy nhiên, ngày lao động chịu giới hạn về mặt sinh lý và cường độ lao động cũng không thể vô hạn. Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu, kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không đổi hoặc thậm chí rút ngắn. Trong thực tế, việc cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động diễn ra trước hết ở một hoặc một vài xí nghiệp riêng biệt, làm cho hàng hóa do các xí nghiệp ấy sản xuất ra có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó sẽ thu được một số giá trị thặng dư trội hơn so với các xí nghiệp khác. Phần giá trị thặng dư trội hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch.

2.2. Bản chất và các nhân tố ảnh hưởng đến tích lũy tư bản

Bản chất của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa thông qua việc chuyển hóa giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh. Nguồn gốc duy nhất của tích lũy tư bản là giá trị thặng dư. Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giữa tích lũy và tiêu dùng. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quy mô tích lũy gồm: trình độ khai thác sức lao động, năng suất lao động xã hội, sử dụng hiệu quả máy móc và đại lượng tư bản ứng trước. Tích lũy làm tăng tích tụ và tập trung tư bản. Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa giá trị thặng dư. Tập trung tư bản là sự tăng lên của quy mô tư bản cá biệt mà không làm tăng quy mô tư bản xã hội do hợp nhất các tư bản cá biệt vào một chính thể. Tích tụ và tập trung tư bản đều góp phần tạo tiền đề để có thể thu được nhiều giá trị thặng dư hơn cho người mua sức lao động.

III. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, giá trị thặng dư biểu hiện qua nhiều hình thức. Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là phần giá trị của hàng hóa bù lại giá cả của tư liệu sản xuấtsức lao động đã sử dụng. Lợi nhuận là số chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ giữa lợi nhuận và tư bản ứng trước. Cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến hình thành lợi nhuận bình quân. Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thương nghiệp. Lợi tức là một phần giá trị thặng dư mà các nhà tư bản hoạt động trả cho nhà tư bản cho vay. Địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho địa chủ. Các hình thức biểu hiện này cho thấy giá trị thặng dư không chỉ là một khái niệm lý thuyết, mà còn là một yếu tố thực tế quan trọng trong hoạt động kinh tế.

3.1. Phân tích bản chất của lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

Trong thực tế sản xuất kinh doanh, giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất có một khoản chênh lệch. Sau khi bán hàng, nhà tư bản không những bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra mà còn thu được số chênh lệch bằng giá trị thặng dư. Số chênh lệch này là lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận và toàn bộ giá trị của tư bản ứng trước. Tỷ suất lợi nhuận chịu ảnh hưởng của tỷ suất giá trị thặng dư, tốc độ chu chuyển của tư bản và tiết kiệm tư bản bất biến. Cạnh tranh giữa các ngành là cơ chế cho sự hình thành lợi nhuận bình quân. Ở các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau, do có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, kĩ thuật và tổ chức quản lý khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành cũng khác nhau.

3.2. Vai trò của địa tô tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế

Tư bản kinh doanh nông nghiệp là bộ phận tư bản xã hội đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho địa chủ. Trong thực tế đời sống kinh tế, địa tô là một trong những căn cứ để tính toán giá cả ruộng đất khi thực hiện bán quyền sử dụng đất cho người khác. Về nguyên lý, giá cả ruộng đất được tính trên cơ sở so sánh với tỷ lệ lãi suất ngân hàng. Lý luận địa tô tư bản chủ nghĩa của C. Mác không những chỉ rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách kinh tế liên quan đến thuế, đến điều tiết các loại địa tô, đến giải quyết các quan hệ đất đai.

IV. Vận dụng lý luận giá trị thặng dư tại Việt Nam Thực trạng

Việc vận dụng lý luận giá trị thặng dư trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tập trung vào phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn hiệu quả, áp dụng khoa học công nghệ, và phân phối giá trị thặng dư. Đảng và Nhà nước đã xác định mô hình kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này cho thấy sự thừa nhận sự tồn tại của các phạm trù kinh tế, trong đó có giá trị thặng dư. Tuy nhiên, việc vận dụng phải phù hợp với tình hình thực tiễn, không nên bê nguyên si các quan điểm của Mác-Lênin. Việt Nam đã khai thác những luận điểm của Mác về biện pháp thu giá trị thặng dư để quản lý kinh tế tư nhân, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, và kiểm soát thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng chú trọng chính sách tiền lương và thuế thu nhập cá nhân để đảm bảo công bằng trong phân phối.

4.1. Quan điểm của Đảng về giá trị thặng dư trong kinh tế thị trường

Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn mang nặng tính tự túc, tự cấp. Vì vậy sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển dần thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hóa sản xuất. Chính trên cơ sở này Đảng và Nhà nước ta đã xác định: Mô hình kinh tế ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này cho thấy Đảng ta thừa nhận sự tồn tại của các phạm trù kinh tế trong đó có phạm trù giá trị thặng dư. Mà trong cương lĩnh thông qua tại đại hội VII Đảng ta đã khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.

4.2. Áp dụng giá trị thặng dư vào thể chế chính sách nhà nước

Khai thác những luận điểm của Mác về những biện pháp, thủ đoạn nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư của các nhà tư bản để góp phần vào việc quản lý thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh tế ở nước ta sao cho vừa khuyến khích phát triển, vừa hướng thành phần kinh tế này đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Kinh tế tư nhân có thể thụ hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các ngành, vùng, các sản phẩm và dịch vụ cần ưu tiên hoặc khuyến khích phát triển không phân biệt thành phần kinh tế, chú trọng tạo điều kiện, hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được.

V. Nghiên cứu giá trị thặng dư Ưu điểm hạn chế tại Việt Nam

Việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư đã mang lại nhiều ưu điểm cho Việt Nam. Đời sống của nhân dân được nâng cao và cải thiện, hoạt động kinh tế ngày càng tăng trưởng, và Việt Nam đang từng bước hội nhập với thế giới. Nghiên cứu giúp thay đổi nhận thức sai lầm về giá trị thặng dư, đồng thời nó với sự bóc lột cần phải xoá bỏ. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế. Công nghệ của Việt Nam vẫn còn thua kém so với các nước phát triển, và các doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong việc đổi mới công nghệ. Hiệu quả kinh tế và năng suất lao động còn thấp, và số người có khả năng đáp ứng yêu cầu tuyển dụng vẫn còn ít.

5.1. Các ưu điểm của nghiên cứu giá trị thặng dư ở Việt Nam

Nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân. Do Đảng và nhà nước ta đã áp dụng nhưng cuộc sống để kích thích sản xuất, khuyến khích tinh thần năng động sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Với những biện pháp như trên đã làm hoạt động kinh tế nước ta ngày càng tăng trưởng thu được nhiều lợi nhuận, đang từng bước tham gia và hội nhập, đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới. Việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư sẽ cho ta những giải pháp để tăng khối lượng giá trị thặng dư của nền kinh tế. Nó góp phần thay đổi nhận thức sai lầm trước đây về giá trị thặng dư, coi nó là phạm trù riêng của chủ nghĩa tư bản, đồng thời nó với sự bóc lột cần phải xoá bỏ.

5.2. Hạn chế và nguyên nhân của các nghiên cứu

Tuy nhiên không thể không thấy rõ những mặt hạn chế khi công nghệ của Việt Nam dù đã được cải tiến rất nhiều nhưng vẫn còn thua kém rất nhiều so với các nước phát triển. Với những doanh nghiệp có nguồn lực hạn hẹp, thì sau khi đổi mới công nghệ một lần thì họ phải chờ một quãng thời gian khá dài mới có thể huy động tiền để tiếp tục đổi mới công nghệ trong khi khoa học kĩ thuật đang biến đổi từng ngày. Khác với Nhật Bản chọn đầu tư những công nghệ mới nhất và sau đó họ bán lại thì Việt Nam chọn đi sử dụng lại các công nghệ cũ, điều này đặt ra thách thức rất lớn về một “bãi rác công nghệ” nếu như không có các hướng đi đúng đắn. Hiệu quả kinh tế thấp, năng suất lao động thấp dẫn đến năng lực cạnh tranh còn thấp là những bất cập trong hoạt động của những doanh nghiệp của Nhà nước nói riêng và các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung.

VI. Giải pháp nghiên cứu giá trị thặng dư tại Việt Nam trong tương lai

Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của Mác cần gắn liền với thực tiễn Việt Nam. Cần khai thác những di sản lý luận về kinh tế hàng hoá, quá trình sản xuất và phân phối giá trị thặng dư, và quá trình tổ chức sản xuất. Cần đẩy mạnh xã hội hoá sản xuất, làm cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Nhà nước cần có chính sách quản lý vĩ mô hiệu quả để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Quan trọng nhất, cần đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.

6.1. Phương hướng nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư ở Việt Nam

Nghiên cứu học thuyết giá trị của C.Mác trong điều kiện hiện nay, cần nhớ lời dặn của V.Lênin: Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Ngày nay, học thuyết giá trị thặng dư vẫn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc nghiên cứu, vận dụng học thuyết này ở nước ta trở thành một việc làm cần thiết.

6.2. Đề xuất giải pháp phát triển trong thời gian tới

Đất nước ta phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, việc vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác trước hết phải nhận thức đúng khái niệm bóc lộtbóc lột giá trị thặng dư trong học thuyết Mác. Việc bóc lột lao động đều có trong tất cả các hình thái xã hội từ trước tới nay vận động trong những mâu thuẫn giai cấp. Nhưng chỉ khi nào kẻ sở hữu tư liệu sản xuất tìm ra được người công nhân tự do, với tư cách là đối tượng bóc lột, và bóc lột người công nhân đó nhằm mục đích sản xuất ra hàng hoá để thu được giá trị tăng thêm.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LÝ LUẬN CỦA KARL MARX VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ 1. Nguồn gốc, khái niệm về giá trị thặng dư 1. Khái niệm giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.

Giá trị thặng dư được Mác xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và số tiền nhà tư bản bỏ ra trong kinh doanh. Nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao động gọi là tư bản khả biến.Tuy nhiên, người lao động sẽ đưa vào hàng hoá một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản trả cho người lao động. Phần dư ra được gọi là giá trị thặng dư, tức là số lượng của hàng hoá mà người lao động làm ra có giá trị cao hơn phần tiền mà nhà tư bản trả cho công nhân và mức chênh lệch đó là giá trị thặng dư. Công thức chung của tư bản Tiền là sản phẩm cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá.

Đồng thời tiền cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản. Song bản thân tiền không phải là tư bản mà tiền chỉ trở thành tư bản khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác. Tiền được coi là tiền thông thường thì vận động theo công thức H-T-H. còn tiền được coi là tư bản thì vận động theo công thức T-H-T.

Ta thấy hai công thức này có những điểm giống và khác nhau: Giống nhau: Cả hai sự vận động đều bao gồm hai nhân tố là tiền và hàng và đều có hai hành vi là mua và bán, có người mua, người bán. Khác nhau: Trình tự hai giai đoạn đối lập nhau (mua và bán) trong hai công thức lưu thông là đảo ngược nhau. Với công thức H-T-H thì bắt đầu bằng việc bán (H-T) và kết thúc bằng việc mua (T-H), bán trước mua sau nhưng tiền chỉ đóng vai trò trung gian và kết thúc quá trình đều là hàng hoá. Ngược lại, với công thức T-H-T thì bắt đầu bằng việc mua (T-H) và kết thúc bằng việc bán (H-T).

ở đây tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc còn hàng hoá đóng vai trò trung gian, tiền ở đây chỉ để chi ra để mua rồi lại thu lại sau khi bán. Vởy tiền trong công thức này chỉ được ứng trước mà thôi. Từ đó ta thấy giá trị sử dụng là mục đích cuối cùng của vòng chu chuyển H-T-H giá trị sử dụng tức là nhằm thoả mãn những nhu cầu nhất định. Như vậy qua trình này là hữu hạn, nó sẽ kết thúc khi nhu cầu được thoả mãn.

Động cơ và mục đích của vòng chu chuyển T-H-T là bản thân giá trị trao đổi trong lưu thông điểm đầu và điểm cuối đều là tiền chúng không khác nhau về chất. Do vậy nếu số tiền thu về bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa. Mà như ta đã biết, một món tiền chỉ có thể khác với một món tiền khác về mặt số lượng. Kết quả là qua lưu thông số tiền ứng trước không những được bảo tồn mà còn tự tăng thêm giá trị.

Nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là T-H-T’. Trong đó T’=T+Δt số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra là Δt, Các Mác gọi là giá trị thặng dư số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn. Từ phân tích trên Mác đã phân biệt rõ ràng tiền thông thường và tiền tư bản.

Tiền thông thường chỉ đóng vai trò trung gian trong lưu thông. Còn tiền tư bản là giá trị vận động, nó ra khỏi lĩnh vực lưu thông rồi lại trở lại lưu thông, tự duy trì và sinh sôi nảy nở trong lưu thông quay trở về dưới dạng đã lớn lên và không ngừng bắt đầu lại cùng một vòng chu chuyển ấy. T-H-T’mới nhìn thì nó là công thức vận động của riêng tư bản thương nghiệp nhưng ngay cả tư bản công nghiệp và cả tư bản cho vay thì cũng vậy.Tư bản chủ nghĩa cũng là tiền được chuyển hoá thành hàng hoá thông qua sản xuất rồi lại chuyển hoá thành một số tiền lớn hơn bằng việc bán hàng hoá đó. Tư bản cho vay thì lưu thông T-H- T’được biểu hiện dưới dạng thu ngắn lại là T-T’ một số tiền thành một số tiền lớn hơn.

Như vậy T-H-T’thực sự là công thức chung của tư bản. Nhưng bên cạnh đó công thức: T-H-T’mâu thuẫn với tất cả các quy luật về bản chất của hàng hóa, giá trị, tiền và bản thân lưu thông. Hàng hóa sức lao động Trong lưu thông có thể có hai trường hợp xảy ra: một là trao đổi tuân theo quy luật giá trị (trao đổi ngang giá); hai là trao đổi không tuân theo quy luật giá trị (trao đổi không ngang giá). • Trường hợp trao đôi ngang giá: Nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ T-H và H-T còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi, trước sau không đổi.

Tuy nhiên về giá trị sử dụng thì cả hai bên đều có lợi.ở đây không có sự hình thành giá trị thặng dư. • Trường hợp trao đổi không ngang giá: Nếu hàng hóa bán cao hơn giá trị của chúng khi đó người bán được lợi một khoản là một phần chênh lệch giữa giá bán và giá trị thực của hàng hóa,còn người mua bị thiệt một khoản đúng bằng giá trị mà người bán được lợi. Còn nếu người bán hàng hoá dưới giá trị của chúng (bán rẻ) thì người mua được lợi một khoản là phần chênh lệch giữa giá trị thực và giá bán của hàng hoá còn người bán bị thiệt một giá trị đúng bằng giá trị mà người mua được lợi. Vậy trong cả hai trường hợp trên cho thấy,nếu người này được lợi thì người kia thiệt nhưng tổng hàng hoá vẫn không tăng lên nên cả hai trường hợp này không hình thành nên giá trị thặng dư.

Tiền đưa vào lưu thông, qua lưu thông thì thu được giá trị thặng dư mà lưu thông không tạo ra giá trị nên không tạo ra giá trị thặng dư, tiền rút khỏi lưu thông làm chức năng lưu thông thì làm chức năng cất trữ thì không thu được giá trị thăng dư.Như vậy cùng với lưu thông và lại không cùng với lưu thông đây chính là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Để giải quyết vấn đề này ta phải đứng trên các quy luật của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Vấn đề cơ bản là nhà tư bản đã gặp trên thị trường một loại hàng hoá đặc biệt mà khi tiêu dùng nó sẽ đem lại giá trị thặng dư đó là sức lao động. Sức lao động và điều kiện tạo ra hàng hoá Sức lao động bao gồm toàn bộ sức thần kinh, sức cơ bắp, thể lực, trí lực tồn tại trong bản thân con người sống, nó chỉ được bộc lộ qua lao động và là yếu tố chủ thể không thể thiếu được của mọi quá trình sant xuất Xã hội.

Sức lao động không phải bao giờ cũng là hàng hoá nó chỉ biến thành hàng hoá khi có đầy đủ hai điều kiện: Thứ nhất: người lao động phải được tự do về thân thể, tự do về năng lực lao động của mìnhvà chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định. Bởi vì sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá khi nó được đưa ta thị trường tức là bản thân người có sức lao động đó đem bán nó. Muốn vậy người lao động phải đựoc tự do về thân thể có quyến sở hữu sức lao động của mình thì mới đem bán sức lao động được. Người sở hữu sức lao động chỉ nên bán sức lao động trong một thời gian nhất định thôi nếu bán hẳn sức lao động đó trong một lần thì người đó sẽ trở thành nô lệ.

Thứ hai: Người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất,muốn sống họ phải bán sức lao động của mình. Vì nếu người lao động được tự do về thân thể mà lại có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hoá và bán hàng hoá do mình sản xuất ra chứ không bán sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hoá,nó cũng xó hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng nhưng nó là hàng hoá đặc biệt vì vậy, giá trị và giá trị sử dụng của nó có những nét đặc thù so với những hàng hoá khác. Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động: Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.

• Giá trị của hàng hoá sức lao động Giá trị hàng hoá sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định. Mà sức lao động lại gắn liền với cơ thể sống. Do đó việc sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cũng bao hàm việc duy trì cuộc sống của con người đó.Muốn duy trì cuộc sống của bản thân mình, con người cần có một số tư liệu sinh hoạt nhất định. Mặt khác số lượng của những nhu cầu cần thiết ấy, cũng như phương thức thoả mãn những nhu cầu đó ở mỗi một người, nhóm người lao động lại khác nhau,do các yếu tố lịch sử, tinh thần, nên giá trị của sức lao động còn mang tính tinh thần, thể chất lịch sử.

Nhưng những người sở hữu sức lao động có thể chết đi do vậy muốn cho người ấy không ngừng xuất hiện trên thị trường hàng hoá sức lao động thì người bán sức lao động ấy phải trở nên vĩnh cửu bằng cách sinh xon đẻ cái. Vì vậy tổng số những tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế đó tức là con cái của những người lao động. Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vất chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động,duy trì đời sống công nhân.Muốn cho mgười lao động có kiến thức và sức lao động vận dụng khoa học trong một ngành lao động nhất định thì cần phải tốn nhiều hay ít chi phí đào tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ