ĐẶT VẤN ĐỀ Trải qua hơn 30 năm nước ta thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nông nghiệp nước ta phát triển một cách đột phá, có những bước tiến vượt bậc trên các lĩnh vực và đạt được nhiều thành tựu quan trọng góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác định nông nghiệp là lợi thế quốc gia, trụ đỡ của nền kinh tế, chủ trương phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững, tích hợp đa giá trị theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh, đồng thời chuyển mạnh tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường. Mặc dù nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc nhưng vẫn còn nhiều tồn tại như chất lượng lúa gạo không đồng đều, sức cạnh tranh chưa cao, sản xuất và kinh doanh lúa gạo còn manh mún, liên kết quy mô lớn và liên kết vùng chưa phỗ biến nên thường xuyên rơi vào tình trạng được mùa – mất giá hay mất mùa – được giá dẫn đến thu nhập của nông hộ bị ảnh hưởng đáng kể. Theo niên giám thống kê sơ bộ của năm 2022, nông nghiệp là ngành có thu nhập thấp nhất trong các ngành kinh tế và đặc biệt trong ngành nông nghiệp, người trồng lúa là người có thu nhập thấp nhất.
Vì vậy, nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu nhập của nông hộ trồng lúa và tìm ra giải pháp khắc phục là một nhu cầu tất yếu hiện nay. Thu nhập của nông dân Việt Nam hiện nay có sự khác biệt tùy thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm vùng địa lý, phương pháp canh tác, quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ. Có thể liệt kê các loại hình canh tác của nông dân Việt Nam hiện nay như nông dân tự cung, nhiều nông dân ở các vùng nông thôn tự cung tự cấp cho nhu cầu gia đình và có thu nhập chủ yếu từ việc canh tác nhỏ, chăn nuôi và trồng cây, thu nhập của họ thường ở mức thấp và bị ảnh hưởng nhiều bởi năng suất, giá cả và điều kiện thời tiết. Loại hình canh tác khác là nông dân HTX, họ tham gia vào các HTX nông nghiệp, trong đó sản xuất và tiêu thụ được tổ chức theo mô hình tập thể, thu nhập của loại hình này phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất và chia sẻ lợi nhuận từ hoạt động của HTX.
Ngoài ra, còn có loại hình canh tác nông dân công nghệ cao, các nông hộ áp dụng công nghệ sản xuất mới, 1 hệ thống tưới tiêu hiện đại và phương pháp canh tác hiệu quả cao, nhờ vào yếu tố công nghệ nên thu nhập của những nông dân này có thể cao hơn so với các loại hình canh tác truyền thống. Tuy nhiên, điểm chung của các loại hình canh tác trên là dù áp dụng phương pháp sản xuất nào thì nông dân vẫn phải chịu sự biến động của thị trường hàng hoá và trong đó giá bán là yếu tố quan trọng và có sự biến động không ngừng. Giá bán lúa là yếu tố then chốt tạo nên thu nhập cho nông hộ ở nước ta hiện nay và cũng là động lực cho người nông dân đầu tư và phát triển mô hình hay quy trình sản xuất đạt chuẩn. Tuy nhiên, giá bán lúa là một yếu tố bị thị trường chi phối và quyết định chu yếu, và đôi khi nông dân gặp khó khăn trong việc nắm bắt thời cơ khi giá lúa tăng hoặc không lường trước được nguy cơ khi giá lúa bắt đầu giảm.
Thị trường lúa có thể biến đổi nhanh chóng do nhiều yếu tố như cung và cầu, thời tiết, chính sách quốc gia và các yếu tố kinh tế toàn cầu. Điều này đặt nông dân vào tình huống khó khăn, vì họ phải đưa ra quyết định về việc bán lúa trong bối cảnh không chắc chắn về giá cả. Khi giá lúa tăng, nông dân đôi khi không thể nhận biết được thời điểm tốt để bán. Họ có thể đứng trước quyết định khó khăn là bán lúa ngay lập tức để tận dụng giá cao nhưng có thể bỏ lỡ cơ hội tăng giá tiềm năng trong tương lai, hoặc chờ đợi và hy vọng giá lúa tiếp tục tăng, nhưng cũng có nguy cơ giảm giá hoặc bị ảnh hưởng bởi biến động thị trường.
Sự không chắc chắn này có thể tạo ra sự bất an tài chính và gây áp lực lên nông dân khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường. Tóm lại, giá bán lúa đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến thu nhập, lợi nhuận, động lực, tính cạnh tranh và sự ổn định kinh tế của nông dân. Điều này làm cho việc theo dõi, dự báo và quản lý biến động giá lúa trở thành một yếu tố quan trọng trong quản lý nông nghiệp hiệu quả và bền vững. Từ những cơ sở lý luận thực tiễn, tác giả đã thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của biến động giá bán lúa đến thu nhập của nông hộ ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang” với mục tiêu nhằm tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, đồng thời ước lượng ảnh hưởng của biến động giá bán lúa đến thu nhập của nông hộ từ đó đề xuất các giải pháp làm tăng thu nhập của nông hộ thông qua việc hạn chế biến động trong giá bán lúa.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Mục tiêu chung của đề tài là ước lượng ảnh hưởng của biến động giá bán lúa đến thu nhập của nông hộ ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang nhằm đề xuất giải pháp làm tăng thu nhập của nông hộ thông qua việc hạn chế biến động trong giá bán lúa.2 Mục tiêu cụ thể (i) Phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa của nông hộ ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
(ii) Ước lượng ảnh hưởng của biến động giá bán lúa đến thu nhập của nông hộ ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. (iii) Đề xuất giải pháp làm tăng thu nhập thông qua việc hạn chế biến động trong giá bán lúa của nông hộ ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Phạm vi không gian Đề tài được thực hiện đối với nông hộ ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.2 Phạm vi thời gian Số liệu thứ cấp sử dụng trong luận văn được thu nhập từ các đơn vị trực thuộc huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Số liệu sơ cấp năm 2022 được thu thập trực tiếp bằng phiếu khảo sát đối với nông hộ thuộc địa bàn nghiên cứu trong năm 2023.3 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là ảnh hưởng của biến động giá bán lúa đến thu nhập của nông hộ ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Lê Khương Ninh (2017) đã thực hiện nghiên cứu về biến động giá bán lúa và thu nhập của hộ trồng lúa ở Đồng Tháp nhằm xác định ảnh hưởng của biến động giá lúa đến thu nhập của nông hộ trồng lúa, theo đó tác giả đã khảo sát 657 nông hộ ở các địa phương thuộc tỉnh Đồng Tháp như huyện Cao Lãnh, huyện Lấp Vò, huyện Lai Vung, thị xã Hồng Ngự, huyện Tháp Mười và tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng ảnh hưởng của biến động giá bán lúa đến thu nhập của các nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, biến động giá bán lúa ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập của nông hộ trồng lúa vì giá bán lúa biến động mạnh cộng với đặc thù của thị trường lúa gạo là số cung cứng nhắc đã khiến nông hộ gặp khó khăn trong việc tiên liệu chính xác xu hướng biến động giá lúa.
Từ đó, nếu kỳ vọng giá lúa cao thì nông hộ sẽ sản xuất nhiều nên giá thấp vào lúc thu hoạch và thu nhập giảm. Ngược lại, nếu kỳ vọng giá thấp thì nông hộ sản xuất ít nên giá cao vào lúc thu hoạch nhưng lại không có lúa để bán nên thu nhập cũng giảm. 3 Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Văn Trịnh, và Phan Thuận (2014) đã sử dụng các hai phương pháp nghiên cứu là thống kê mô tả và hồi quy đa biến để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân trồng lúa ở Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập của người dân trồng lúa vẫn còn thấp và trong đó yếu tố giá lúa có ý nghĩa khá quan trọng đối với việc nâng cao thu nhập của bà con trồng lúa, giá lúa càng cao thì người nông dân có xác suất thu nhập càng cao và ngược lại.
Tuy nhiên giá lúa hiện tại vẫn còn thấp và cộng với giá lúa biến động bấp bênh theo mùa vụ hoặc theo năm khiến cho bà con trồng lúa không an tâm trong việc sản xuất lúa. Khairati, Hakimi, và Azriani (2023) đã thực hiện nghiên cứu khảo sát đối với 200 hộ nông dân trồng lúa ở 7 huyện và 3 thành phố đại diện cho số lượng hộ nông dân trồng lúa lớn nhất ở Tây Sumantra, Indonesia. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp phân tích hồi quy bội và kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân trồng lúa là diện tích đất canh tác, giá lúa, số lượng giống sử dụng, lượng phân bón sử dụng và số lượng lao động. Trong đó biến giá bán gạo có tác động tích cực đáng kể đến thu nhập của nông dân trồng lúa với giá trị ý nghĩa 0,003 < 0,05, khi giá bán có xu hướng tăng sẽ làm tăng thu nhập ròng của nông hộ trồng lúa từ nông nghiệp.
Negara (2010) đã áp dụng kĩ thuật phân tích phi tham số trên dữ liệu khảo sát được trên cơ sở dữ liệu khảo sát đời sống gia đình Indonesia nhằm cố gắng quan sát tác động của sự biến động giá gạo đối với sự phân bổ thu nhập của các hộ gia đình trồng lúa ở Indonesia. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của sự biến động giá gạo tới phân bổ thu nhập là khác nhau, phụ thuộc vào tỷ lệ lợi ích ròng của hộ gia đình, đặc điểm hộ gia đình và đặc điểm vùng. Giá gạo tăng đem đến cơ hội cho các hộ trồng lúa gia tăng thu nhập nhưng ngược lại giá gạo tăng lại có xu hướng làm gia tăng mức nghèo đói trong dân cư và đặc biệt là các hộ gia đình có thu nhập trung bình.