Luận văn: Tác động của FDI tới ngành chế biến, chế tạo Việt Nam

Luận văn: Tác động của FDI đến ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam. Nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng và giải pháp thu hút vốn hiệu quả.

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan FDI Động Lực Công Nghiệp Chế Biến Chế Tạo VN

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò then chốt trong sự tăng trưởng kinh tế, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (CNCB, CT) thu hút lượng vốn FDI đáng kể nhất. Nhiều quốc gia đã gặt hái thành công nhờ tập trung phát triển CNCB, CT với sự hỗ trợ của FDI. Ví dụ, Thái Lan đã xây dựng tổ hợp sản xuất ô tô và linh kiện lớn thứ ba châu Á, còn Malaysia trở thành một trong những nước xuất khẩu hàng điện tử hàng đầu thế giới. Tại Việt Nam, FDI là yếu tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong CNCB, CT. Ngành này có kim ngạch xuất khẩu lớn và đóng góp đáng kể vào GDP, chiếm 40,4% trong giai đoạn 2011-2014. Đây là lĩnh vực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, CNCB, CT thu hút tới 72% vốn FDI, cho thấy tầm quan trọng của ngành đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, thương mại quốc tế và tăng trưởng quốc gia. Vì vậy, việc phân tích tác động của FDI đối với CNCB, CT ở Việt Nam là vô cùng cần thiết.

1.1. Vai Trò Của Công Nghiệp Chế Biến Chế Tạo Trong Nền Kinh Tế

Ngành CNCB, CT giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế, đóng góp lớn vào GDP, tạo việc làm và thúc đẩy xuất khẩu. Theo tài liệu gốc, CNCB, CT đóng góp 40.4% vào GDP Việt Nam trong giai đoạn 2011-2014. Sự phát triển của ngành kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ liên quan. CNCB, CT cũng là động lực chính cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp này cũng tạo ra một lượng lớn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống xã hội. Các công ty FDI trong ngành thường mang đến các công nghệ và kỹ năng mới, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước. Ví dụ, công nhân được đào tạo để vận hành các máy móc hiện đại hoặc quản lý các quy trình sản xuất tiên tiến.

1.2. Thách Thức Đối Với Phát Triển Công Nghiệp Chế Biến Chế Tạo Tại VN

Mặc dù có vai trò quan trọng, CNCB, CT ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Theo tài liệu gốc, chính sách FDI còn nhiều bất cập. Nguồn nhân lực vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng. Các cụm công nghiệp hỗ trợ chưa phát huy hết khả năng. Tiềm lực của các doanh nghiệp trong ngành còn yếu. Trình độ công nghệ còn thấp và cơ sở hạ tầng còn thiếu đồng bộ. Những hạn chế này cần được giải quyết để CNCB, CT có thể phát triển bền vững và đóng góp nhiều hơn vào nền kinh tế. Một trong những giải pháp quan trọng là thu hút FDI chất lượng cao, chú trọng chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Chính phủ cần tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi, khuyến khích liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

II. Phân Tích Tác Động Trực Tiếp Của FDI Vào Công Nghiệp VN

FDI có tác động trực tiếp đến CNCB, CT thông qua việc tăng vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy xuất khẩu. Vốn FDI bổ sung nguồn vốn quan trọng cho ngành, giúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. FDI cũng mang đến công nghệ mới, giúp các doanh nghiệp cải tiến quy trình sản xuất và tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Hơn nữa, FDI còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ các ngành công nghiệp thâm dụng lao động sang các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn. Đặc biệt, FDI giúp thúc đẩy xuất khẩu, tạo ra nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế.

2.1. Tác Động Đến Vốn Đầu Tư Và Tăng Trưởng Sản Xuất

FDI đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung vốn đầu tư cho CNCB, CT. Theo tài liệu gốc, vốn FDI là một trong những nguồn lực đầu vào quan trọng, giúp tăng sản lượng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cần chú ý đến chất lượng của FDI. Nếu vốn FDI chỉ đổ vào các ngành công nghiệp chế biến trình độ thấp, sử dụng lao động giản đơn và lãng phí tài nguyên, thì sẽ không tạo ra sự phát triển bền vững cho ngành. Chính phủ cần có chính sách khuyến khích FDI vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại và thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần kiểm soát chặt chẽ các dự án FDI để đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên hiệu quả.

2.2. Thúc Đẩy Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Ngành Chế Biến

FDI có tác động lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong CNCB, CT. Vốn FDI từ các quốc gia khác nhau, với các công nghệ và kinh nghiệm khác nhau, sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn trong từng ngành công nghiệp, từ đó làm thay đổi cơ cấu toàn ngành. Tuy nhiên, cần đảm bảo rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra một cách hợp lý và bền vững. Nếu vốn FDI chỉ tập trung vào một số ít ngành, hoặc nếu quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra chậm chạp, thì sẽ không tạo ra sự phát triển đồng đều cho toàn ngành. Do đó, Chính phủ cần có chính sách khuyến khích FDI vào các ngành công nghiệp khác nhau, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước.

III. Tác Động Gián Tiếp Của FDI Cạnh Tranh Và Chuyển Giao

Bên cạnh tác động trực tiếp, FDI còn có tác động gián tiếp đến CNCB, CT thông qua việc tạo áp lực cạnh tranh và thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Các doanh nghiệp FDI với lợi thế về công nghệ, tài chính và kinh nghiệm quản lý sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong nước. Áp lực này buộc các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao hiệu quả sản xuất, cải tiến công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, FDI còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với các công nghệ mới và tiên tiến.

3.1. Tăng Cường Áp Lực Cạnh Tranh Lên Doanh Nghiệp Nội Địa

FDI tạo ra áp lực cạnh tranh đáng kể cho các doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp FDI thường có lợi thế về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Điều này buộc các doanh nghiệp nội địa phải cải thiện hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ để có thể cạnh tranh được. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh quá lớn cũng có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là những doanh nghiệp chưa có đủ nguồn lực để thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo sự công bằng cho tất cả các doanh nghiệp.

3.2. Thúc Đẩy Chuyển Giao Công Nghệ Và Nghiên Cứu Phát Triển

FDI đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ và thúc đẩy nghiên cứu phát triển trong CNCB, CT. Các doanh nghiệp FDI thường mang đến các công nghệ mới và tiên tiến, giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với các quy trình sản xuất hiện đại và nâng cao năng suất. Bên cạnh đó, FDI còn khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, để có thể làm chủ công nghệ và tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Tuy nhiên, cần chú ý đến chất lượng của công nghệ được chuyển giao. Nếu công nghệ được chuyển giao là lạc hậu hoặc không phù hợp với điều kiện của Việt Nam, thì sẽ không mang lại nhiều lợi ích cho ngành. Do đó, Chính phủ cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp FDI chuyển giao các công nghệ hiện đại và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

IV. Giải Pháp Tận Dụng Tối Đa Lợi Ích Từ FDI Công Nghiệp VN

Để tận dụng tối đa lợi ích từ FDI trong CNCB, CT, Việt Nam cần có các giải pháp đồng bộ, từ việc định hướng thu hút FDI đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Cần tập trung thu hút FDI vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại và thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với công nghệ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, cần tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, để tạo ra các chuỗi cung ứng bền vững và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.

4.1. Thu Hút FDI Vào Ngành Công Nghệ Cao Tiềm Năng Phát Triển

Việc thu hút FDI vào các ngành CNCB, CT sử dụng nhiều công nghệ tiên tiến và thu hút các công ty nước ngoài có triển vọng là rất quan trọng. Như vậy, Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận với các công nghệ mới, nâng cao năng lực sản xuất và tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Các công ty nước ngoài có triển vọng thường có kinh nghiệm quản lý tốt, mạng lưới thị trường rộng lớn và khả năng đổi mới sáng tạo cao. Việc hợp tác với các công ty này sẽ giúp các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.

4.2. Nâng Cao Hợp Tác Giữa Doanh Nghiệp Trong Và Ngoài Nước

Tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp trong và ngoài ngành là một giải pháp quan trọng để tận dụng tối đa lợi ích từ FDI. Hợp tác giữa các doanh nghiệp sẽ giúp các doanh nghiệp chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ và nguồn lực, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hợp tác với nhau, thông qua việc xây dựng các chính sách khuyến khích và hỗ trợ hợp tác. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác và xây dựng mối quan hệ đối tác tin cậy.

V. Phát Triển Công Nghiệp Hỗ Trợ Nền Tảng Vững Chắc Cho FDI

Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ ngành CNCB, CT là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả sử dụng FDI và tạo ra sự phát triển bền vững cho ngành. Các ngành công nghiệp hỗ trợ cung cấp các nguyên vật liệu, linh kiện và dịch vụ cần thiết cho các ngành công nghiệp chính. Việc phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm và tạo ra nhiều việc làm mới.

5.1. Hoàn Thiện Chính Sách Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng

Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của lao động ngành CNCB, CT là một giải pháp quan trọng để thu hút FDI chất lượng cao. Các nhà đầu tư nước ngoài thường quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực khi quyết định đầu tư vào một quốc gia. Do đó, Việt Nam cần có chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của các ngành công nghiệp công nghệ cao, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tiếp cận với các cơ hội đào tạo và phát triển.

5.2. Chính Sách Hỗ Trợ Phát Triển Khoa Học Và Công Nghệ

Chính sách hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ là một yếu tố quan trọng để thu hút FDI vào CNCB, CT. Các nhà đầu tư nước ngoài thường tìm kiếm các quốc gia có môi trường khoa học công nghệ phát triển, để có thể tận dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển và tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Do đó, Việt Nam cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học và kỹ sư làm việc và sáng tạo.

VI. Kết Luận FDI Động Lực Phát Triển Công Nghiệp VN Tƣơng Lai

FDI đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của CNCB, CT ở Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa lợi ích từ FDI, Việt Nam cần có các giải pháp đồng bộ và toàn diện, từ việc định hướng thu hút FDI đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Với những nỗ lực không ngừng, FDI sẽ tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNCB, CT và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

6.1. Tăng Cƣờng Nghiên Cứu Và Ứng Dụng Khoa Học Công Nghệ

Việc tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Các doanh nghiệp cần chủ động đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đồng thời hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu để tiếp cận với các công nghệ mới và tiên tiến. Chính phủ cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học và kỹ sư làm việc và sáng tạo.

6.2. Xây Dựng Môi Trƣờng Đầu Tƣ Minh Bạch Thuận Lợi Hơn

Xây dựng môi trường đầu tư minh bạch và thuận lợi là một yếu tố quan trọng để thu hút FDI chất lượng cao. Các nhà đầu tư nước ngoài thường quan tâm đến môi trường đầu tư khi quyết định đầu tư vào một quốc gia. Do đó, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu các thủ tục hành chính phiền hà, đồng thời tăng cường tính minh bạch và ổn định của chính sách.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới các ngành công nghiệp chế biến và chế tạo ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về tác động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tới ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 3: Thực trạng tác động của FDI tới các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam. Chƣơng 4: Một số giải pháp tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Việt Nam 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Công trình nghiên cứu về tác động của FDI tới CNCB, CT trên thế giới 1.

Các công trình nghiên cứu định tính Haddad và Harrison (2006) trong nghiên cứu để tìm “Các bằng chứng về tác động tràn tích cực về tác động của FDI lên năng suất lao động của các doanh nghiệp địa phương”, đã sử dụng số liệu giai đoạn 1995 – 2005 trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ở Marốc. Nghiên cứu đã chỉ ra không có mối liên hệ đáng kể nào giữa sự hiện diện tăng thêm của phía nƣớc ngoài với tăng trƣởng năng suất các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức năng suất lao động trong các doanh nghiệp nƣớc ngoài không cao hơn doanh nghiệp sở hữu bởi địa phƣơng, mặc dù các doanh nghiệp nƣớc ngoài trả tiền lƣơng cao hơn. Kokko (2004) trong bài nghiên cứu “công nghệ, đặc điểm thị trường và hiệu ứng tràn” sử dụng dữ liệu Mê-xi-cô để phân tích đã phát hiện ra rằng sự hấp thụ công nghệ, tăng trƣởng năng suất trong các doanh nghiệp địa phƣơng phụ thuộc vào đặc tính của từng ngành công nghiệp. Ngành công nghiệp nào mà thị phần nƣớc ngoài quá lớn, nơi mà khả năng của doanh nghiệp địa phƣơng yếu thì sẽ không có hoặc rất khó tạo ra các hiệu ứng tràn về năng suất.

Blomström và Kokko (2007) trong nghiên cứu “Hội nhập khu vực và đầu tư trực tiếp” trong nghiên cứu chính sách tại ngân hàng thế giới đã chỉ ra khi thị trƣờng nƣớc chủ nhà rộng hơn và các nhà cung cấp nội địa có trình độ công nghệ khác nhau thì càng có nhiều triển vọng hình thành các mối liên kết với các MNC. Quy mô thị trƣờng, các quy định trong nƣớc cũng nhƣ quy mô và khả năng công nghệ của các doanh nghiệp nƣớc chủ nhà là những yếu tố có thể ảnh hƣởng tới mức độ của các mối liên kết. Các chính sách của chính phủ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các mối liên kết theo chiều dọc với các MNC Oksana Iurchenko (2009) trong luận án tiến sĩ “Liệu các doanh nghiệp nước ngoài có tạo ra tác động “crowding out” đối với các doanh nghiệp trong nước ở Ukraina hay không ”, tác giả đã chỉ ra rằng sự hiện diện của doanh nghiệp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nƣớc ngoài có tác động tích cực đến sự tồn tại và phát triển đối với các doanh nghiệp trong nƣớc nhƣng ở các mức độ khác nhau. Khi tổng số doanh nghiệp nƣớc ngoài trong lĩnh vực chế tạo vƣợt quá 30% của tổng số doanh nghiệp có trên thị trƣờng thì tác động này sẽ đổi chiều.

Tức là, khi số lƣợng doanh nghiệp nƣớc ngoài chiếm đến 30% thì tác động tràn tích cực sẽ xuất hiện và tỉ lệ tồn tại của các doanh nghiệp trong nƣớc tăng lên. Nhƣng khi con số này vƣợt quá 30% thì tác động chèn ép “crowding out” sẽ xảy ra và tỉ lệ tồn tại của doanh nghiệp trong nƣớc giảm xuống. Các công trình nghiên cứu định lƣợng Javorick (2004), trong nghiên cứu có tên “Liệu FDI có làm tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước hay không? Nghiên cứu về hiệu ứng tràn của liên kết ngược” về tác động tràn của FDI ở các nƣớc đang phát triển. tác giả đã kết luận tác động tràn của FDI có thể mang đến những thay đổi công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh, cải thiện nguồn lực hoặc thay đổi kỹ năng công việc và khả năng quản trị trong các nƣớc này.

Trong nghiên cứu này Javorick cũng cho biết liên kết xuôi đƣợc tạo ra khi các doanh nghiệp FDI đầu tƣ cho các doanh nghiệp nội địa nhằm cải thiện công nghệ, giảm chi phí đầu vào trung gian cho các sản ph ẩm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI có thể đem đến những khó khăn cho doanh nghiệp nội địa khi họ cũng cung cấp các nguồn đầu vào tƣơng tự nhƣ các doanh nghiệp nội địa, điều này sẽ dẫn đến tác động ngƣợc của liên kết xuôi nhƣ nghiên cứu Trong các nghiên cứu của Aitken và Harrision (1999), Magnus và Ari Kokoko (2000), Spencer (2008), các tác giả cùng cho rằng hiệu ứng tràn trong nội bộ ngành mang tính chất cạnh tranh, điều này có nghĩa là giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa sẽ cạnh tranh với nhau để chiếm lĩnh thị trƣờng. Do đó, các doanh nghiệp nội địa sẽ cải tiến công nghệ và cải thiện nguồn lực. Cạnh tranh có thể mang lại ảnh hƣởng ngƣợc với các doanh nghiệp nội địa nhƣ các doanh nghiệp nội địa có thể cắt giảm sản lƣợng và năng suất, do cầu trong nƣớc đối với hàng hóa của các doanh nghiệp nội địa giảm.

Bên cạnh đó, sự chuyển dịch lao động cũng đƣợc coi là một kênh tràn quan trọng, bởi vì các 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com doanh nghiệp FDI sẽ thu hút lao động từ các doanh nghiệp nội địa, điều này sẽ ảnh hƣởng trực tiếp tới doanh nghiệp nội địa. Mặt khác, các doanh nghiệp hƣớng vào xuất khẩu do nhằm vào thị trƣờng bên ngoài thì ít có ảnh hƣởng cạnh tranh hay chèn ép đối với các doanh nghiệp trong nƣớc. Trong nghiên cứu của Carillo (2005) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và liên kết địa phương: kinh nghiệm và vai trò của chính sách. Trường hợp ngành công nghiệp ti vi Mê – Hi – Cô ở Ti – Ju – Na”, tác giả cho biết mức độ các mối liên kết theo chiều dọc của các MNC phụ thuộc nhiều vào chiến lƣợc mua sắm của MNC.

Các MNC sẽ có xu hƣớng tích hợp ngƣợc theo chiều dọc tại nƣớc chủ nhà khi các doanh nghiệp này chỉ cần những nguồn đầu vào tƣơng đối đơn giản .Mua sắm trong nƣớc của các doanh nghiệp FDI có xu hƣớng tăng dần theo thời gian khi họ tích lũy đƣợc những kinh nghiệm đầu tƣ, nâng cấp đƣợc các yếu tố nội địa tại chỗ và có thể hạ thấp đƣợc chi phí mua sắm, chi tiêu nội địa. Yếu tố thời gian có liên quan tới kinh nghiệm và sự tích hợp với nƣớc chủ nhà của các doanh nghiệp FDI thông qua các hoạt động “nội địa hóa” mạnh mẽ hơn về quản lý .Mức độ gắn kết của các doanh nghiệp thƣờng phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp này đã hoạt động ở đó đƣợc bao nhiêu năm và quá trình tích hợp thƣờng đƣợc hình thành dần từng bƣớc. Các mối liên kết ngƣợc có xu hƣớng tăng lên trƣớc hết với sự tham gia thêm vào theo thời gian của các công đoạn sản xuất và trong mối tƣơng quan với sự phát triển hạ tầng công nghiệp tại nƣớc chủ nhà. Rodriguez Clare (2005) trong nghiên cứu “Đa quốc gia, liên kết và phát triển kinh tế” chỉ ra rằng, các MNC có mức sử dụng cao các nguyên liệu trung gian thì đồng thời tạo ra nhiều mối quan hệ hơn.

Với năng lực tiếp thu hiện tại thì các nƣớc đang phát triển khó có khả năng thu hút FDI với tiềm năng hình thành các quan hệ ở mức độ cao. Do sản ph ẩm của các doanh nghiệp trong nƣớc có chất lƣợng thấp và không đủ tin cậy, nên các doanh nghiệp FDI có trình độ công nghệ cao thƣờng phải tìm kiếm các đầu vào từ bên ngoài. Khoảng cách công nghệ và tỷ phần thị trƣờng nƣớc ngoài lớn, do đó không diễn ra tác động tràn tuy nhiên cũng sẽ có tác động tràn nếu khoảng cách công nghệ là lớn, nhƣng tác động này sẽ không xảy ra trong ngắn hạn 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Meyer và Sinani (2009) trong nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra hiệu ứng tràn tích cực trong lĩnh vực nào?” đã cho biết sự hình thành các mối liên kết với các MNC tại các nƣớc đang phát triển là khác nhau tùy theo ngành công nghiệp, chiến lƣợc xây dựng mạng lƣới và các yếu tố của nƣớc chủ nhà nhƣ bản chất của quá trình công nghiệp, mức độ phức tạp của công nghệ và mức độ thay đổi công nghệ cần thiết, quy mô nền kinh tế và các yếu tố thị trƣờng. Quốc gia gốc của doanh nghiệp FDI, triết lý của doanh nghiệp và định hƣớng thị trƣờng của doanh nghiệp cũng có những ảnh hƣởng trực tiếp tới bản chất và mức độ của các mối quan hệ đƣợc hình thành tại nƣớc chủ nhà 1.

Công trình nghiên cứu về tác động của FDI tới CNCB, CT ở Việt nam 1. Các công trình nghiên cứu định tính Trong kỷ yếu hội nghị 25 năm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam (2013) đã nói rằng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đã có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, trong đó có việc khơi dậy các nguồn lực đầu tƣ trong nƣớc, tạo sức ép cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất; phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, góp phần đƣa Việt Nam từng bƣớc tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. Bên cạnh đó, tác động lan tỏa công nghệ của khu vực đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc thực hiện thông qua mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài với doanh nghiệp trong nƣớc, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nƣớc tiếp cận hoạt động chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa của khu vực đầu tƣ nƣớc ngoài sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn chế, có dấu hiệu chèn lấn doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ trong nƣớc ở một số lĩnh vực đã chịu tác động chèn lấn của doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài.

Nguyễn Ngọc Anh (2008) trong bài nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: bằng chứng về tác động lan tỏa công nghệ”, tác giả thông qua việc khai thác bộ số liệu ở cấp độ doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã tìm thấy tác động tích cực của FDI lên năng suất các doanh nghiệp thông qua kênh dịch chuyển lao động, nhƣng không tìm thấy bằng chứng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ