CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về tác động của các Hiệp định thƯơng mại tự do Việt Nam và EU đã tham gia 1. Các nghiên cứu về tác động của các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã tham gia Trong những năm gần đây, cùng với sự sôi động của thực tiễn hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam, có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác động của các FTA Việt Nam đã là thành viên, đặc biệt là nghiên cứu về các FTA với ASEAN là trung tâm. Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) được phân tích đến trong nghiên cứu của Vergano & cộng sự (2010).
Võ Trí Thành & Nguyễn Anh Dương (2009) lại phân tích bức tranh tổng quan về các FTA Việt Nam đã ký kết, tập trung vào giai đoạn hai năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Nghiên cứu của Cassing & cộng sự (2010) tổng hợp và phân tích toàn bộ các FTA Việt Nam đã tham gia tính đến năm 2010 trong khi nghiên cứu của Trương Đình Tuyển & cộng sự (2011) mang tính tổng hợp và toàn diện hơn cả, đề cập đến tác động không chỉ của các FTA mà còn của các cam kết mở cửa thị trường trong WTO đến sản xuất, thương mại của Việt Nam. Arita & Dyck (2014),Nguyễn Đức Thành & Nguyễn Thị Thu Hằng (2015) đã phân tích tác động của TPP đến nền kinh tế và thương mại Việt Nam. Các tác giả đều kết luận rằng các FTA mang lại tác động tích cực cho nền kinh tế Việt Nam, thúc đẩy tăng trưởng thương mại, đầu tư, GDP và việc làm.
Các FTA cũng làm gia tăng phúc lợi xã hội của Việt Nam. Trong dài hạn, ACFTA đóng góp lớn nhất vào gia tăng phúc lợi cho Việt Nam, tiếp đó Hiệp định đối tác kinh tế ASEAN - Nhật Bản (AJEPA). Trong khi đó, gia tăng phúc lợi xã hội của Việt Nam trong Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Ấn Độ (AIFTA) và Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Úc-New Zealand (AANZFTA) tương đối nhỏ bé. Với TPP, Việt Nam là nước đạt được mức gia tăng GDP và phúc lợi kinh tế lớn nhất tính theo phần trăm thay đổi.
Một số các tác động động khác mà các FTA mang đến cho Việt Nam gồm: 7 gia tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực; thúc đẩy thị trường tài chính và lao động linh hoạt; gia tăng đầu tư và sản lượng; tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và thúc đẩy cải cách sau biên giới. Tác động của FTA đến riêng thương mại Việt Nam đã được thảo luận trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tác động của các FTA khác nhau đến thương mại của Việt Nam sẽ có những điểm khác biệt. Một FTA có thể làm tăng thương mại của Việt Nam với các nước đối tác FTA ở mức độ đáng kể nhưng cũng có những FTA chỉ đem đến gia tăng thương mại ở mức độ thấp.
Sự khác nhau đó xuất phát từ nhiều yếu tố. Theo Jha & cộng sự (2010), dưới tác động của AKFTA, xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với Hàn Quốc sẽ tăng mạnh hơn xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam với thế giới. Sự gia tăng mạnh mẽ này là do tính bổ sung thương mại tương đối lớn và có xu hướng gia tăng giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng kinh tế cao của cả Việt Nam và Hàn Quốc gắn liền với những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế cũng như thương mại, độ mở cao và mối quan hệ kinh tế thương mại ngày càng chặt chẽ cũng góp phần đáng kể vào thúc đẩy thương mại của Việt Nam với Hàn Quốc.
Mức thuế quan ban đầu cao cũng là yếu tố quan trọngthúc đẩy thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc khi cả hai bên đều cam kết xoá bỏ thuế quan cho hơn 90% dòng thuế. Đối với ACFTA, Casing & cộng sự (2010) chỉ ra rằng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc sẽ gia tăng mạnh. Điều đó là do Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, đồng thời là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tính bổ sung cao của Trung Quốc cho Việt Nam đối với các nguyên vật liệu, thiết bị và bán thành phẩm mà Việt Nam chưa sản xuất được. Ngược lại, thương mại của Việt Nam với Ấn Độ, Úc, New Zealand tăng không đáng kể do đây là hai đối tác thương mại nhỏ của Việt Nam.
Về tác động của các FTA theo ngành, các nghiên cứu trước đây đều khá thống nhất khi chỉ ra rằng các ngành Việt Nam chủ yếu được lợi từ gia tăng xuất khẩu là dệt may, hàng điện tử, sản phẩm da, giày dép, thuỷ sản, rau quả, cao su và cà phê đối với hầu hết các FTA hiện nay Việt Nam đang tham gia. Ngược lại, các sản phẩm Việt Nam sẽ gia tăng nhập khẩu mạnh gồm ô tô, giấy, máy móc thiết bị, nhựa, thuốc lá, sữa. Chính lợi thế so sánh của Việt Nam và các nước đối tác là yếu tố chủ yếu quyết định tác động ngành của FTA. Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn, có thể nhận thấy những điểm khác nhau về tác động ngành giữa các FTA.
Với AKFTA, những ngành Việt Nam gia tăng nhập khẩu mạnh mẽ từ Hàn Quốc sẽ là 8 khoáng sản (Jha & cộng sự, 2010); ô tô và điện tử (Nguyễn Tiến Dũng, 2011); giấy, nhựa, thuốc lá (Casing & cộng sự) do đây là các ngành Việt Nam không có lợi thế so sánh và bảo hộ ở mức độ cao. Đây cũng là những sản phẩm Việt Nam có truyền thống nhập khẩu cao từ Hàn Quốc. Ngược lại, những ngành được lợi từ xuất khẩu bao gồm nông sản, thuỷ sản và các mặt hàng chế tạo sử dụng nhiều lao động như dệt may, sản phẩm da, thiết bị giao thông vận tải (Nguyễn Tiến Dũng, 2011; Casing & cộng sự, 2010). Điều đó chủ yếu là do mức thuế ban đầu của Hàn Quốc đánh vào các sản phẩm trên rất cao nhưng các mặt hàng này đều được xoá bỏ thuế, đồng thời đây cũng là các mặt hàng Việt Nam có lợi thế so sánh.
Với ACFTA, có ba mặt hàng nhập khẩu Việt Nam sẽ gia tăng mạnh từ Trung Quốc là sản xuất kim loại, máy móc thiết bị và dệt may. Đây là các mặt hàng có tỷ trọng nhập khẩu cao của Việt Nam từ Trung Quốc và có mức thuế ban đầu cao (Vergano & cộng sự, 2010). Một vấn đề hiện nay làm giảm lợi ích tiềm của các FTA của Việt Nam tham gia là sự phức tạp và chồng chéo lẫn nhau trong quy tắc xuất xứ (RoO). Doanh nghiệp phải thiết lập và vận hành các hệ thống kế toán khác nhau về định nghĩa, khái niệm, tài khoản.
để cung cấp thông tin về chi phí và thay đổi mã số hàng hoá để tuân thủ RoO của nước nhập khẩu. Phí tổn phát sinh khi vận hành các hệ thống song song như vậy có thể lớn hơn lợi ích đạt được từ ưu đãi FTA, dẫn đến một bộ phận lớn các doanh nghiệp Việt Nam không sử dụng các ưu đãi từ FTA khi xuất khẩu sang các nước đối tác (Inama & cộng sự, 2011), do đó làm giảm lợi ích của các FTA của Việt Nam đối với thương mại. Nội dung cam kết trong các FTA cũng là một yếu tố quan trọng quyết định tác động của một FTA đến thương mại. Các FTA Việt Nam đã ký kết có những đặc điểm nổi bật về nội dung sau.
Thứ nhất, Việt Nam thường cam kết phân chia hàng hoá thành các danh mục khác nhau với lộ trình và mức độ cắt giảm thuế xác định riêng cho từng danh mục, trong đó thường có riêng danh mục cho các hàng nhạy cảm và nhạy cảm cao. Thứ hai, lộ trình cắt giảm thuế của Việt Nam trong các FTA tương đối nhất quán về phạm vi cam kết, theo đó Việt Nam cam kết loại bỏ thuế quan theo lộ trình đối với khoảng 90% dòng thuế. Thứ ba, lộ trình cắt loại bỏ thuế quan đối với 90% dòng thuế thường được thực hiện trong giai đoạn 10 -15 năm. Thứ tư, Việt Nam thường áp dụng lộ trình cắt giảm thuế theo hướng mức độ cắt giảm thuế trong giai đoạn đầu không cao và sẽ tăng lên trong các năm cuối của lộ trình.
Thứ năm, trong các FTA trong khuôn khổ ASEAN, các mặt hàng thường được bảo hộ mạnh nhất gồm trứng gia cầm, thuốc lá, lá thuốc lá, thóc, gạo, đường, 9 xăng dầu, lốp ô tô, sắt thép xây dựng, các loại ô tô, xe máy nguyên chiếc và phụ tùng…. Những nhóm hàng được bảo hộ với lộ trình dài hơn thường bao gồm thực phẩm chế biến, đồ uống có cồn, một số chế phẩm dầu khí, xi măng, nhựa, sản phẩm dệt, phụ tùng ô tô, xe máy, máy móc thiết bị. Thứ sáu, thời gian lộ trình cắt giảm thuế của Việt Nam thường dài hơn khoảng 5 năm, mức độ cam kết ít hơn so với các nước có trình độ phát triển hơn(Vergano &Linnote, 2009; Jha & cộng sự, 2010; Vergano & cộng sự, 2010; Cassing & cộng sự, 2010; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2013). Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các cam kết liên quan đến hàng rào phi thuế quan của Việt Nam cũng ngày càng mở rộng về phạm vi và sâu hơn về mức độ.
Trong AFTA, các cam kết về hàng rào phi thuế quan trong giai đoạn Việt Nam mới tham gia chủ yếu hướng vào xoá bỏ hạn ngạch và các hàng rào định lượng, sau đó mở rộng dần ra các lĩnh vực hợp tác khác như hợp tác hải quan, hài hoà hoá các tiêu chuẩn và RoO (Vergano & Linnote, 2009). Đến AJCEP, AANZFTA, ACFTA, Việt Nam có thêm các cam kết về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBTs), quy định về kiểm dịch động thực vật (SPSs), các biện pháp phòng vệ thương mại (Cassing & cộng sự, 2010; Trương Đình Tuyển & cộng sự, 2011). Với các hiệp định gần đây như EVFTAvà TPP, nhiều vấn đề khác cũng được đề cập đến như sở hữu trí tuệ (SHTT), thương mại và môi trường. Chính các cam kết sâu rộng này cũng ảnh hưởng quan trọng đến thương mại của Việt Nam.