CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Tổng quan về các nghiên cứu dự tính khí hậu và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nhu cầu nước cho cây trồng trên thế giới và Việt Nam. Biến đổi khí hậu (BĐKH) [35] là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu, hoặc do những tác động từ bên ngoài [49].
Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 (AR4) của IPCC, tác động bức xạ thay đổi trong thời đại công nghiệp chủ yếu do sự gia tăng về nồng độ của các KHK hỗn hợp trong khí quyển do các hoạt động của con người. Theo báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5), thứ tự đóng góp cho tác động bức xạ của các KNK quan trọng lần lượt là CO2, CH4, N2O và CFC-12. Trước những diễn biến ngày một phức tạp của biến đổi khí hậu, các quốc gia trên thế giới đã có nhiều nỗ lực để ứng phó với biến đổi khí hậu: Đầu tiên phải kể đến là sự thành lập của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC); Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC); Nghị định thư Kyoto (KP) [50]; Các hội nghị của Liên Hợp Quốc về BĐKH (COP) với thành quả mới nhất là Hiệp định Paris được ký kết năm 2015 của gần 200 nước tham gia với mục tiêu giữ nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng so với thời kỳ tiền công nghiệp ở mức thấp hơn đáng kể so với 2°C và nỗ lực để giới hạn mức tăng nhiệt độ đến 1.5°C so với thời kỳ tiền công nghiệp, với nhận thức rằng điều này sẽ giúp giảm đáng kể rủi ro và tác động của biến đổi khí hậu [46]. Việc nghiên cứu dự tính khí hậu cũng như việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu lên các ngành, các lĩnh vực luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học và cả các nhà quản lý trên toàn thế giới.
Trên thế giới Trên thế giới đã sớm có nhiều nghiên cứu dự tính khí hậu tương lai, chủ yếu được thực hiện dựa trên 2 phương pháp: phương pháp tương tự (cố gắng dự tính sự thay đổi của khí hậu tương lai từ việc tái tạo khí hậu quá khứ sử dụng dữ liệu khí hậu – Palaeo) và phương pháp mô phỏng khí hậu bằng các mô hình hoàn lưu chung khí quyển (GCM) (được bắt nguồn từ những mô hình dự báo thời tiết), các GCM dựa trên các định luật bảo toàn vật lý mô tả sự phân bố lại của động lượng, nhiệt lượng và hơi nước bởi các 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển động trong khí quyển [34]. Bởi các ưu điểm vượt trội của nó nên các GCM ngày càng được chú trọng nghiên cứu phát triển. Đặc biệt là sau khi IPCC được thành lập, qua các báo cáo đánh giá của mình, IPCC đã đánh giá và sử dụng các phương pháp tối ưu nhất để xây dựng kịch bản BĐKH quy mô toàn cầu. Cùng với sự phát triển của các mô hình khí hậu, IPCC cũng đã xây dựng các kịch bản phát thải khí nhà kính (KNK) dựa trên những thay đổi của các nhân tố như tăng trưởng kinh tế, dân số, chính trị hay công nghệ.
Kịch bản đầu tiên hình thành vào năm 1990 (SA90 gồm 4 họ kịch bản A,B,C,D), kế tiếp là bộ kịch bản được xây dựng vào năm 1992 (IS92 gồm 6 họ kịch bản (IS92a-IS92f)) và bộ các kịch bản SRES (Special Report on Emissions Scenarios) được ban hành chính thức năm 2000 gồm 6 nhóm kịch bản với 3 họ kịch bản gốc là A2, B1 và B2, và 3 nhóm trong họ kịch bản A1 là A1B, A1FI và A1T. Tất cả các kịch bản SRES giả định rằng không có chính sách giảm thiểu khí hậu nào được thực hiện [49]. Và mới đây, IPCC đã xây dựng bộ kịch bản nồng độ khí nhà kính đặc trưng (Representative Concentration Pathways) RCP gồm có 4 kịch bản: RCP2.5, kịch bản RCP chú trọng đến nồng độ khí nhà kính thay vì các quá trình phát thải trên cơ sở các giả định về phát triển của kinh tế- xã hội, công nghệ, dân số… Một RCP thể hiện một kịch bản biến đổi theo thời gian của nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, đại diện đầy đủ phạm vi của những kịch bản trước đây có đặc điểm phát thải và RF tương tự. Các RCP được xác định bởi giá trị gần đúng của RF (Wm-2) tại năm 2100.
Tên các kịch bản được ghép bởi RCP và độ lớn của RF của các KNK trong khí quyển tại năm 2100 [44]. Các kịch bản được so sánh trên Hình 1. Cho tới nay, IPCC đã thực hiện 5 lần xây dựng và cập nhật kịch bản BĐKH và NBD chính thông qua 5 lần báo cáo đánh giá BĐKH: FAR (1990), SAR (1994), TAR (2001), AR4 (2007), AR5 (2013). Các mô hình GCM đã liên tục được phát triển về độ phân giải và độ chính xác do ngày càng được bổ sung đầy đủ các thành phần của hệ thống khí hậu, các hoàn lưu quy mô lớn và các sơ đồ tham số hóa cho các quy trình nhỏ hơn.
Trong AR4, IPCC đã xây dựng kịch bản BĐKH từ tổ hợp 21 mô hình toàn cầu (dự án CMIP3), và sử dụng bộ kịch bản phát thải KNK SRES để xây dựng kịch bản BĐKH cho thế kỷ 21. Đến AR5, số lượng mô hình đã tăng lên gần 50 mô hình toàn cầu (dự án CMIP5) và chạy với kịch bản nồng độ khí nhà kính RCP. Điểm mới trong AR5 đó là IPCC đã có cách tiếp cận mới có tính đồng thời, tức là sau khi RCPs được xác định, quá trình phát triển kịch bản được thực hiện song song giữa các 3 nhóm nghiên cứu: (1) cộng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng mô hình biến đổi khí hậu (CM); (2) cộng đồng xây dựng kịch bản kinh tế - xã hội (IAM); và (3) cộng đồng đánh giá tác động, thích ứng, tổn thương và giảm thiểu (IAV), khác với hình thức tuần tự trong AR4 (xác định các kịch bản về phát thải và kinh tế - xã hội trước, trên cơ sở đó mới xây dựng các kịch bản BĐKH và cuối cùng mới thực hiện các mô hình đánh giá tác động). Về mặt khoa học, CMIP5 tập trung vào ba khía cạnh chính mà CMIP3 còn hạn chế, cụ thể: (1) Đánh giá cơ chế quyết định sự khác biệt trong mô phỏng của các mô hình đối với chu trình các - bon và mây; (2) Đánh giá khả năng mô phỏng của mô hình đối với các hiện tượng có quy mô thập kỷ; và (3) Tìm nguyên nhân dẫn tới việc các mô hình mô phỏng rất khác nhau đối với cùng một kịch bản.
Về thời kỳ cơ sở được lựa chọn để so sánh là thời kỳ 1986-2005, thay cho thời kỳ 1980- 1999 như lần công bố trước đây. Ngoài ra, trong AR5 đã bổ sung thêm các đánh giá toàn diện hơn về mức độ biến đổi của cực đoan khí hậu (SREX) và xuất bản tập Atlas biến đổi khí hậu mà trong báo cáo AR4 không có hoặc chưa đầy đủ. Tác động bức xạ tổng cộng (RF total) lịch sử và dự tính từ năm 1950- 2100 của 3 họ kịch bản IS92, SRES và RCP (Nguồn: IPCC, 2013) Theo như dự tính trong báo cáo AR5, mức tăng của nhiệt độ, lượng mưa, và mực nước biển trung bình toàn cầu cụ thể như sau [44]: Về nhiệt độ: nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu giai đoạn từ năm 2081–2100 tăng so với giai đoạn 1986-2005 trong phạm vi từ 0,3 - 1,7°C (RCP2. Vùng Bắc cực sẽ nóng nhanh hơn toàn cầu và sự ấm lên trên mặt đất sẽ lớn hơn đại dương.
So với giai đoạn 1850-1900, thay đổi nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu vào cuối thế kỷ 21, với độ tin cậy cao, có khả năng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (xác suất >66%) vượt quá 1,5°C đối với RCP4.5, vượt quá 2°C với RCP6.5, nhiều khả năng (more likely) không vượt quá 2°C với RCP4.5; mức tăng nhiệt không thể (xác suất <33%) vượt quá 4°C đối với RCP2.0 (độ tin cậy cao) và có khả năng (xác suất >66%) không vượt quá 4°C với RCP8. Sự nóng lên sẽ tiếp tục biến đổi giữa các giai đoạn hàng năm cho đến thập kỷ và sẽ không đồng đều theo khu vực. Các hiện tượng nóng cực đoan chắc chắn sẽ tăng lên và cực đoan lạnh sẽ giảm đi trên hầu hết các vùng lục địa trên quy mô thời gian hàng ngày và mùa, rất có khả năng (xác suất >90%) các đợt nóng sẽ xảy ra với tần suất và thời gian dài hơn. Về lượng mưa: Theo kịch bản RCP8.5, vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa ở vĩ độ trung bình và cận nhiệt đới sẽ tăng ở nhiều vùng khô hạn và giảm ở các vùng ẩm ướt, ở vĩ độ cao và xích đạo Thái Bình Dương, lượng mưa sẽ tăng.
Mưa cực đoan sẽ tăng ở các vùng vĩ độ trung bình và vùng ẩm ướt cận nhiệt đới. Về mực nước biển: Mực nước biển dâng trung bình toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trong thế kỷ 21, mức tăng trong giai đoạn 2081–2100 so với giai đoạn 1986-2005 có khả năng nằm trong khoảng từ 0,26 - 0,55m (RCP2.5), với tốc độ tăng của RCP8.5 trong khoảng 8 - 16 mm/năm (độ tin cậy trung bình). Mặc dù các GCM có độ phân giải ngày càng tăng nhưng hầu hết chúng không thể mô phỏng tốt các thay đổi ở quy mô khu vực đến địa phương. Do đó, các phương pháp hạ quy mô thường được sử dụng để chuyển các dự báo của GCM thành thông tin có độ phân giải cao được yêu cầu làm đầu vào để phân tích tác động.
Có 2 phương pháp chính để hạ quy mô là: chi tiết hóa động lực (sử dụng đầu ra của mô hình khí hậu toàn cầu GCM làm đầu vào cho mô hình khí hậu khu vực RCM để đưa ra các thông tin chi tiết hơn, độ phân giải cao hơn cho một khu vực cụ thể (Christensen et al. 2007)) và chi tiết hóa thống kê (giả thiết rằng mối quan hệ thống kê giữa các yếu tố khí tượng quy mô địa phương/khu vực với các biến khí hậu quy mô lớn sẽ được duy trì trong tương lai, áp dụng chúng cho đầu ra của các mô phỏng GCM sẽ nhận được các thông tin về đặc điểm khí hậu tương lai cho địa phương và khu vực) [49].