Nghiên cứu về dự báo sớm KMT lan rộng và giá trị của thang điểm Spot Sign trong chảy máu não tự phát

Luận án tiến sĩ phân tích yếu tố dự báo sớm KMT lan rộng và giá trị thang điểm spot sign trong tiên lượng chảy máu não tự phát giai đoạn cấp.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Tác giả

Nguyễn Song Hào

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2019

184
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ KHỐI MÁU TỤ LAN RỘNG

1.1.1. Thuật ngữ và định nghĩa

1.1.2. Sinh lý bệnh của KMT lan rộng sớm

1.1.3. Ngưỡng xác định khối máu tụ lan rộng

1.1.4. Phân biệt chảy máu não nguyên phát và chảy máu não thứ phát

1.2. MỘT SỐ YẾU TỐ DỰ BÁO KHỐI MÁU TỤ LAN RỘNG

1.2.1. Thời gian từ khi khởi phát đến khi nhập viện ngắn

1.2.2. Tình trạng rối loạn ý thức khi nhập viện

1.2.3. Hình dạng và tỷ trọng khối máu tụ

1.2.4. Nồng độ Fibrinogen thấp

1.2.5. Nghiện rượu mạn tính

1.2.6. Thể tích khối máu tụ ban đầu

1.2.7. Vấn đề đông máu và sử dụng thuốc chống đông

1.2.8. Vấn đề tăng huyết áp

1.2.9. Các yếu tố phân tử viêm và nội môi

1.2.10. Dấu hiệu “spot” và dự báo khối máu tụ lan rộng

1.3. THANG ĐIỂM “SPOT SIGN” VÀ MỘT SỐ THANG ĐIỂM TIÊN LƯỢNG

1.3.1. Cơ sở lý luận hình thành thang điểm “spot sign”

1.3.2. Giá trị dự báo khối máu tụ lan rộng của thang điểm “spot sign”

1.3.3. Giá trị dự báo của thang điểm “spot sign” cho tử vong tại bệnh viện, thời gian nằm viện và kết cục tồi ở bệnh nhân sống sót

1.3.4. Hạn chế của thang điểm “spot sign”

1.3.5. Một số thang điểm tiên lượng khác

1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.4.1. Nghiên cứu ngoài nước

1.4.2. Nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân ra khỏi nghiên cứu

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.3. Kĩ thuật chọn mẫu

2.2.4. Tiêu chuẩn xác định khối máu tụ lan rộng

2.2.5. Địa điểm nghiên cứu

2.2.6. Thời gian nghiên cứu

2.2.7. Các phương tiện phục vụ nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu

2.2.8. Tiến hành nghiên cứu

2.2.9. Các biến số trong nghiên cứu và định nghĩa biến

2.2.10. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.2.11. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

3.1.1. Tuổi và nhóm tuổi

3.1.2. Một số đặc điểm về tiền sử bệnh của các bệnh nhân nghiên cứu

3.2. MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ DỰ BÁO SỚM KHỐI MÁU TỤ LAN RỘNG CỦA CÁC BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

3.2.1. Liên quan giữa một số yếu tố lâm sàng khi nhập viện và khối máu tụ lan rộng của các bệnh nhân nghiên cứu

3.2.2. Liên quan giữa các chỉ số huyết học, đông máu khi nhập viện và nguy cơ khối máu tụ lan rộng của các bệnh nhân nghiên cứu

3.2.3. Liên quan giữa các chỉ số hóa sinh khi nhập viện và nguy cơ khối máu tụ lan rộng của các bệnh nhân nghiên cứu

3.2.4. Liên quan giữa một số yếu tố hình ảnh học và nguy cơ khối máu tụ lan rộng của các bệnh nhân nghiên cứu

3.2.5. Vai trò của dấu hiệu “spot” và thang điểm “spot sign” trong dự báo sớm khối máu tụ lan rộng qua phân tích đa biến

3.3. XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐIỂM “SPOT SIGN” TRONG TIÊN LƯỢNG BỆNH NHÂN CHẢY MÁU NÃO TỰ PHÁT

3.3.1. Dấu hiệu “spot” trong tiên lượng chảy máu não của các bệnh nhân nghiên cứu

3.3.2. Giá trị của thang điểm “spot sign” trong tiên lượng chảy máu não của các bệnh nhân nghiên cứu

3.3.3. Vai trò thang điểm “spot sign” để tiên lượng tử vong và tàn phế của các bệnh nhân nghiên cứu qua phân tích đa biến

3.3.4. So sánh giá trị của thang điểm “spot sign” với một số thang điểm trong tiên lượng của các bệnh nhân nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

4.1.1. Tuổi và giới

4.1.2. Một số đặc điểm tiền sử bệnh của các bệnh nhân nghiên cứu

4.2. MỘT SỐ YẾU TỐ DỰ BÁO SỚM KHỐI MÁU TỤ LAN RỘNG Ở BỆNH NHÂN CHẢY MÁU NÃO TỰ PHÁT

4.2.1. Liên quan giữa một số yếu tố lâm sàng khi nhập viện và khối máu tụ lan rộng của các bệnh nhân nghiên cứu

4.2.2. Liên quan giữa các chỉ số huyết học, đông máu khi nhập viện và nguy cơ khối máu tụ lan rộng của các bệnh nhân nghiên cứu

4.2.3. Một số chỉ số hóa sinh khi nhập viện và nguy cơ khối máu tụ lan rộng của các bệnh nhân nghiên cứu

4.2.4. Liên quan giữa một số yếu tố hình ảnh học và nguy cơ khối máu tụ lan rộng của các bệnh nhân nghiên cứu

4.2.5. Vai trò của dấu hiệu “spot” và thang điểm “spot sign” trong dự báo sớm khối máu lan rộng qua phân tích đa biến

4.3. XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CỦA THANG ĐIỂM “SPOT SIGN” TRONG TIÊN LƯỢNG BỆNH NHÂN CHẢY MÁU NÃO TỰ PHÁT

4.3.1. Dấu hiệu “spot” trong tiên lượng chảy máu não của các bệnh nhân nghiên cứu

4.3.2. Giá trị của thang điểm “spot sign” trong tiên lượng bệnh nhân chảy máu não tự phát

4.3.3. Vai trò thang điểm “spot sign” trong tiên lượng tử vong và tàn phế của các bệnh nhân nghiên cứu qua phân tích đa biến

4.3.4. So sánh giá trị của thang điểm “spot sign” với một số thang điểm trong tiên lượng của các bệnh nhân nghiên cứu

4.4. Những hạn chế của đề tài

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về khối máu tụ lan rộng

Khối máu tụ (KMT) lan rộng là một biến chứng nghiêm trọng trong chảy máu não tự phát. Định nghĩa KMT lan rộng chưa được thống nhất trong tài liệu khoa học. Nhiều tác giả cho rằng KMT lan rộng xảy ra khi có sự mở rộng thể tích KMT trong nhu mô não, chảy vào não thất hoặc khoang dưới nhện. KMT lan rộng được xác định là xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau khi khởi phát chảy máu não. Nghiên cứu cho thấy nguy cơ KMT lan rộng chiếm 38% trong vòng 24 giờ đầu từ khi có triệu chứng. Các yếu tố như thể tích KMT ban đầu, hình dạng không đều, và rối loạn ý thức khi nhập viện đều có thể dự báo nguy cơ này. Dấu hiệu “spot” trên chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đã được xác định là một chỉ điểm mới dự báo sớm KMT lan rộng.

1.1. Sinh lý bệnh của KMT lan rộng

Cơ chế của KMT lan rộng trong pha cấp vẫn chưa được hiểu rõ. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sự rối loạn cơ chế đông máu và phản ứng viêm có thể dẫn đến sự gia tăng áp lực trong mạch máu, gây ra chảy máu thứ phát. Sự gia tăng nồng độ của các chất trung gian gây viêm như interleukin-6 (IL-6) cũng có thể góp phần vào sự lan rộng của KMT. Hơn nữa, áp lực nội sọ tăng cao có thể làm tổn thương nhu mô não và dẫn đến sự gia tăng KMT. Những yếu tố này đều có thể làm tăng nguy cơ tử vong và kết cục tồi cho bệnh nhân chảy máu não.

II. Dấu hiệu spot và thang điểm Spot Sign

Dấu hiệu “spot” là sự thoát thuốc cản quang trên CLVT, cho thấy sự hiện diện của KMT lan rộng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng dấu hiệu này là yếu tố tiên lượng độc lập, có khả năng dự báo nguy cơ tử vong và kết cục tồi ở bệnh nhân chảy máu não. Thang điểm Spot Sign được phát triển để đánh giá mức độ nghiêm trọng của KMT và giúp các bác sĩ đưa ra quyết định điều trị kịp thời. Giá trị dự báo của thang điểm này đã được xác nhận qua nhiều nghiên cứu, cho thấy nó có thể cải thiện khả năng tiên lượng cho bệnh nhân.

2.1. Giá trị dự báo của thang điểm Spot Sign

Thang điểm Spot Sign không chỉ dự báo nguy cơ tử vong mà còn giúp đánh giá thời gian nằm viện và kết cục tồi ở bệnh nhân sống sót. Nghiên cứu cho thấy thang điểm này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc dự đoán KMT lan rộng. Việc sử dụng thang điểm này trong thực hành lâm sàng có thể giúp các bác sĩ đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

III. Ứng dụng thực tiễn và hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu về KMT lan rộng và thang điểm Spot Sign có giá trị thực tiễn cao trong việc cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân chảy máu não tự phát. Việc phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ và sử dụng thang điểm Spot Sign có thể giúp bác sĩ đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời, giảm thiểu tỷ lệ tử vong và di chứng nặng nề. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vẫn còn nhiều hạn chế, như cần thêm nhiều nghiên cứu đa trung tâm để xác nhận tính chính xác và độ tin cậy của thang điểm này trong các bối cảnh khác nhau.

3.1. Hạn chế của thang điểm Spot Sign

Mặc dù thang điểm Spot Sign có giá trị dự báo cao, nhưng vẫn cần lưu ý rằng không phải tất cả bệnh nhân đều có dấu hiệu này. Một số yếu tố khác như tình trạng lâm sàng và các chỉ số sinh hóa cũng cần được xem xét. Hơn nữa, việc áp dụng thang điểm này trong thực tế lâm sàng cần được thực hiện cẩn thận, đảm bảo rằng các bác sĩ có đủ thông tin để đưa ra quyết định điều trị hợp lý.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ một số yếu tố dự báo sớm kmt lan rộng và giá trị của thang điểm spot sign trong tiên lượng chảy máu não tự phát giai đoạn cấp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ KHỐI MÁU TỤ LAN RỘNG 1. Thuật ngữ và định nghĩa Thuật ngữ về hiện tượng KMT lan rộng sau chảy máu não tự phát chưa từng được sử dụng một cách thống nhất trong các tài liệu khoa học. Vì thế, nhiều tác giả đã định nghĩa KMT lan rộng là tất cả hình thái của sự mở rộng theo chiều không gian của chảy máu ban đầu gồm có; tăng thể tích KMT trong nhu mô não, chảy vào trong não thất hoặc chảy vào trong khoang dưới nhện sát ngay cạnh nguồn chảy máu ban đầu và không bao gồm hình thành phù não quanh KMT.

Hơn thế nữa, KMT được xác định là lan rộng sớm khi xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau khi khởi phát chảy máu não tự phát [3]. Trước đây nhiều tác giả cho rằng chảy máu não chỉ có một thì và hiện tượng chảy máu sẽ sớm ngừng lại trong vòng vài phút do hiện tượng đông máu của KMT và do sự đè ép của các tổ chức não xung quanh, nhưng cho tới nay quan niệm này đã hoàn toàn thay đổi [12],[13],[14]. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều nghiên cứu khi thực hiện chụp CLVT nhắc lại cho các bệnh nhân chảy máu não thấy KMT còn có thể tiếp tục lan rộng, thậm chí ngay cả khi không có rối loạn đông máu, thường trong vòng 12- 24 giờ đầu sau khi xảy ra cơn đột quỵ. Sự lan rộng của KMT là một trong những nguyên nhân làm bệnh tiến triển nặng lên, biểu hiện bằng suy giảm ý thức [4],[12].

Ý nghĩa lâm sàng của sự lan rộng KMT đã được làm rõ trong một số nghiên cứu thử nghiệm phẫu thuật lấy máu tụ sớm trong vòng bốn giờ đầu sau khởi phát đột quỵ não. Nghiên cứu này bị thất bại khi có 3 trong số 11 bệnh nhân đầu tiên bị tử vong sau phẫu thuật do hiện tượng chảy máu tiếp tục tái hình thành KMT [dẫn theo 15],[16]. luan an 4 Dựa trên cơ sở các quan sát đó, nhiều tác giả cho rằng dùng liệu pháp gây đông máu sớm có thể làm giảm được thể tích chảy máu và cải thiện được tiên lượng. Người ta dùng yếu tố VIIa tái tổ hợp (rFVIIa), để gây đông máu tại nơi mạch máu bị tổn thương ở bệnh nhân có rối loạn đông máu và cả bệnh nhân không có rối loạn đông máu.

Qua các thử nghiệm lâm sàng thấy rằng sử dụng yếu tố VIIa tái tổ hợp nguy cơ đông máu hệ thống cũng như các biến chứng tắc mạch thấp [15],[17]. Liệu pháp gây đông máu sớm trong vòng 3-4 giờ đầu sau cơn đột quỵ chảy máu não có thể làm ngừng chảy máu và làm giảm sự lan rộng của KMT [1]. Sinh lý bệnh của KMT lan rộng sớm Cho đến nay, cơ chế chính xác của KMT lan rộng trong pha cấp còn chưa được hiểu một cách rõ ràng. Người ta cho rằng đó là quá trình không đồng nhất bao gồm: Sự rối loạn cơ chế điều hòa của đông máu thông qua con đường hoạt hóa dòng thác đông máu qua phản ứng viêm và gia tăng quá mức matrix metalloproteinase (MMP), gây phá vỡ hàng rào máu - não [2].

KMT lan rộng sớm cũng có thể là kết quả của sự gia tăng nồng độ của fibronectin tế bào (cFn) trong huyết tương và chất trung gian gây viêm interleukin-6 (IL-6) [18]. Tăng áp lực thủy tĩnh trong mạch máu có thể là nguyên nhân ban đầu dẫn đến chảy máu thứ phát (từ các động mạch và tiểu tĩnh mạch) và có thể tiến triển lan rộng bởi tác động của hiệu ứng khối cục bộ, thiếu máu và tế bào bị tổn thương bởi các chất trung gian gây viêm trong huyết tương [19]. Sự gia tăng đột ngột của áp lực nội sọ dẫn tới sự biến dạng và phá vỡ nhu mô não tại chỗ, tổn thương các tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đệm và mạch máu bị căng phồng do giảm dòng chảy về của tĩnh mạch [dẫn theo 2]. Một số nghiên cứu cho rằng KMT lan rộng sớm là kết quả của sự chảy máu thứ phát từ ngoại vi cục máu đông vào vùng xung quanh nhu mô não bị tổn thương [15].

luan an 5 Huyết tương giàu thrombin, các sản phẩm phân hủy fibrin và plasmin nhanh chóng đi vào vùng tổn thương của nhu mô não, kích hoạt phản ứng viêm, tạo ra Matrix metalloprotease (MMP), rối loạn đông máu cục bộ, làm thay đổi tính thấm của hàng rào máu não. Hậu quả là làm cho KMT lan rộng [2],[19]. Sự lan rộng của KMT có thể xảy ra thông qua việc chảy máu liên tục hoặc chảy máu tái phát [14]. Những dữ liệu lâm sàng này cho thấy; KMT lan rộng sớm có thể là kết quả của sự chảy máu vào trong vùng “nửa tối” của tổn thương và ngay lập tức nhu mô não xung quanh KMT sung huyết, phù nề.

Cơ chế sinh lý bệnh của KMT lan rộng được mô tả tóm tắt như sau: Sau chảy máu não Tăng áp lực thủy Rối loạn điều hòa đông máu Thrombin, Fibrin, các tĩnh, hiệu ứng khối, thông qua hoạt hóa đông sản phẩm phân hủy tăng áp lực nội sọ máu qua phản ứng viêm hồng cầu Dòng chảy tĩnh mạch Tăng MMP, CFn, IL-6 Phá hủy hàng rào trở về giảm, thiếu máu, tổn thương tế bào trong huyết tương máu - não RL điều hòa ĐM thông qua hoạt hóa ĐM qua viêm KMT lan rộng Sơ đồ 1. Sinh lý bệnh của KMT lan rộng sớm [2],[15],[19]. luan an 6 Nghiên cứu về mô bệnh học đã chỉ ra rằng: - Có nhiều điểm chảy máu vi thể và đại thể ở vùng ngoại vi của KMT, xuất phát từ những động mạch bị rách hoặc các tiểu tĩnh mạch là kết quả của sự kéo dài các mạch máu xung quanh sau khi KMT lan rộng [15]. - Các nghiên cứu về chụp CLVT đồng thời với chụp CLVT phát xạ proton đơn đã chứng minh trong trường hợp KMT lan rộng là kết quả của sự bổ sung nhiều lượng máu chảy đến vùng ngoại vi của KMT, trong vùng ngoại vi tổn thương có tốc độ dòng chảy thấp [dẫn theo 15].

- Một nhóm các nhà nghiên cứu đã phát công bố rằng; có mối liên quan giữa hình dạng KMT không đồng đều và KMT lan rộng sớm, mà có thể là kết quả của sự chảy máu từ nhiều vị trí [20]. Theo Komiyama M và CS (1995) chảy máu đồng thời từ nhiều động mạch đậu-vân được phát hiện bằng chụp mạch máu ngay sau chảy máu não [dẫn theo 15],[21]. Ngưỡng xác định khối máu tụ lan rộng Ngưỡng xác định KMT lan rộng còn chưa thống nhất qua các nghiên cứu. Theo Steiner T và CS (2010) sử dụng ngưỡng điểm cắt (cut - off) để xác định sự lan rộng có ý nghĩa là trên 33% hoặc trên 12,5 ml [3].

Hay Leira và CS (2004) sử dụng ngưỡng 33% đối với các KMT nhỏ (<20ml) và ngưỡng >10% đối với KMT lớn (>20ml) [22]. Theo nghiên cứu của Dowlatshahi và CS đã chỉ ra rằng KMT lan rộng tuyệt đối có giá trị dự báo dương tính cao hơn các giá trị tương đối. Theo Wada và CS (2007), sử dụng định nghĩa > 30% hoặc > 6ml và được hỗ trợ bởi các nghiên cứu trước đây về chảy máu não do chấn thương thể hiện nhu cầu can thiệp phẫu thuật khi KMT tăng thêm 5ml. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng của yếu tố VIIa tái tổ hợp, cải thiện được kết cục lâm sàng khi nhóm điều trị giảm sự lan rộng là 5,8ml so với nhóm đối chứng [8],[17].

Theo Kazui và CS (1996) đánh giá sự đồng luan an 7 thuận của 5 chuyên gia để xác định KMT được lan rộng dựa trên đánh giá bằng trực quan. KMT được xác định là lan rộng khi tăng 12,5ml hoặc 1,4 lần, là ngưỡng điểm cắt tối ưu cho đánh giá KMT lan rộng bằng mắt thường. Tuy nhiên, định nghĩa chính xác về những gì mà các nhà quan sát định nghĩa là sự lan rộng của KMT trong nghiên cứu này không được nêu rõ [23]. Ngưỡng xác định khối máu tụ lan rộng qua một số nghiên cứu Ngưỡng xác định Số Địa điểm nghiên Tác giả và tài liệu tham khảo KMT lan rộng lượng cứu Demchuck và CS, 2012 [6] >33% hoặc >6ml 228 Hoa kỳ,Đức,Ấn độ Goldstein và CS, 2007 [9] >33% 104 Hoa kỳ Li và CS, 2011 [7] >33% hoặc>12,5ml 139 Trung Quốc Park và CS, 2010 [10] >30% hoặc >6ml 110 Hàn Quốc Rodriguez-Luna và CS,2011 [24] >33% hoặc >6ml 133 Tây Ban Nha Wada và CS, 2007 [8] >30% hoặc >6ml 39 Canada Điều quan trọng cần lưu ý là các KMT ban đầu lớn (> 30 ml) thì với bất kỳ mức độ lan rộng nào cũng có khả năng đáp ứng được các tiêu chuẩn về thể tích tuyệt đối.

Điều này là do một tổn thương với kích thước lớn thì không cần phải tăng lên nhiều để cho thấy có sự thay đổi về thể tích vì thể tích là hình khối của bán kính và hầu hết thể tích của một vật thì nằm bao quanh rìa ngoài của bán kính [25]. Ngược lại, KMT có kích thước nhỏ hơn, hầu như gặp KMT lan rộng đáp ứng tiêu chuẩn về tỷ lệ phần trăm. Điều này đã được chứng minh bởi Broderick và CS (2007), khi nghiên cứu về KMT lan rộng, cho thấy thể tích KMT có liên quan đến cả sự thay đổi tỷ lệ phần trăm và sự thay đổi tuyệt đối trong sự lan rộng của KMT [26]. Tuy nhiên, các tác giả này nhận thấy rằng những thay đổi tuyệt đối có nhiều khả năng xảy ra ở các KMT có thể tích ban đầu lớn hơn và ngược lại KMT nhỏ hơn có nhiều khả năng sẽ có sự lan rộng KMT về tỷ lệ phần trăm [26].

Theo Dowlatshahi và CS (2011), cũng luan an 8 công bố rằng KMT dưới 10 ml, hầu như ít bị tăng thể tích KMT tuyệt đối so với KMT lớn trên 30 ml [27]. Tuy nhiên, tác giả không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa với điểm cắt của KMT trên 33% giữa KMT lớn và nhỏ [27]. Một điểm đáng chú ý, được nêu bật bởi Kazui và CS (1996), là ngay cả khi mức độ lan rộng của KMT là như nhau, thì kết cục lâm sàng của KMT lan rộng có thể thay đổi tùy theo vị trí của chảy máu não [dẫn theo 28]. Ý nghĩa lâm sàng của ngưỡng xác định KMT cụ thể đối với các KMT ban đầu khác nhau ở các vùng khác nhau của não đòi hỏi phải nghiên cứu thêm.

Trong khi ngưỡng xác định cho sự lan rộng KMT còn đang tranh cãi, nhưng sự xuất hiện KMT lan rộng sớm kết hợp với sự suy đồi thần kinh sớm và kết cục tồi đã được xác định [3]. Phân biệt chảy máu não nguyên phát và chảy máu não thứ phát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu về dự báo sớm KMT lan rộng và giá trị của thang điểm Spot Sign trong chảy máu não tự phát" của tác giả Nguyễn Song Hào, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Đạt Anh và PGS. Vũ Đăng Lưu, được thực hiện tại Trường Đại Học Y Hà Nội vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát hiện sớm các trường hợp chảy máu não tự phát thông qua việc sử dụng thang điểm Spot Sign, từ đó giúp cải thiện khả năng chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp dự báo mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các thang điểm trong thực tiễn lâm sàng, mang lại lợi ích lớn cho các bác sĩ và nhân viên y tế trong việc quản lý bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: "Luận án tiến sĩ về huyết động và chức năng tâm thu thất trái trong sốc nhiễm khuẩn", nơi nghiên cứu về các thông số huyết động trong tình trạng khẩn cấp, và "Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu nồng độ copeptin huyết thanh trong tiên lượng bệnh nhân tai biến mạch máu não giai đoạn cấp", cung cấp thông tin về các chỉ số sinh học trong chẩn đoán tai biến mạch máu não. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến chảy máu não và các tình trạng cấp cứu khác trong y học.