CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về kiệt quệ tài chính 1. Khái niệm về kiệt quệ tài chính Kiệt quệ tài chính (financial distress) là một vấn đề rộng trên thế giới từ lịch sử cho đến nay. Phần lớn các công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào tình trạng phá sản chứ không tập trung vào tình trạng kiệt quệ tài chính.
Kiệt quệ tài chính thường diễn ra ở các quốc gia đang phát triển nơi mà môi trường kinh doanh không được kiểm soát tốt. Sự tồn tại của tình trạng này dẫn đến những hậu quả bất lợi cho xã hội cũng như nền kinh tế của quốc gia đó. Đã có nhiều quan điểm khác nhau về kiệt quệ tài chính. Theo Brealey và cộng sự (2008), kiệt quệ tài chính là biến có gắn với quyết định tài trợ bằng nợ, có thể xảy ra nếu DN không đủ khả năng thực hiện cam kết với chủ nợ hoặc có thể thực hiện nhưng khó khăn; theo đó, kiệt quệ tài chính có thể là tình trạng tạm thời và dẫn đến một số rắc rối cho DN như chủ nợ không tiếp tục tài trợ, dự án khả thi bị trì hoãn hay bỏ qua…; nhưng kiệt quệ tài chính cũng có thể dẫn đến phá sản DN (Brealey và cộng sự, 2008; Arnold, 2013).
Theo nghiên cứu của Beaver (1966) và Altman (1983), kiệt quệ tài chính là trạng thái khi DN không thể đáp ứng được cam kết tiền tệ đã hoạch định trước. Nghiên cứu của Beaver, Maria Correia và McNichols (2010) cho rằng thuật ngữ kiệt quệ tài chính có mục đích rộng và đề cập đến việc không có khả năng thanh toán các nghĩa vụ khi đến hạn. Trong hầu hết các bài nghiên cứu trước, phá sản là thuật ngữ phổ biến nhất được sử dụng để định nghĩa được tình trạng kiệt quệ tài chính. Tuy nhiên, Muller, Steyn Bruwer và Hamman (2012) đã chỉ ra rằng kiệt quệ tài chính được coi là “một thay đổi lớn về cấu trúc đối với DN như sát nhập, hấp thụ, huỷ niêm yết hoặc thanh khoản”.
4 Theo Huỳnh Cát Tường (2008), kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi DN không đáp ứng được các hứa hẹn với chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn. Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa đến phá sản, đôi khi nó chỉ có nghĩa là DN đang gặp khó khăn, rắc rối về tài chính. Các nhà đầu tư luôn lo ngại rằng các DN có vay nợ có thể sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, điều này được phản ánh trong giá trị thị trường hiện tại của chứng khoán của DN đó. Như vậy, có thể hiểu kiệt quệ tài chính có thể được định nghĩa là tình trạng một DN không thể tiếp tục tồn tại ở hình thức kinh doanh thông thường.
Lý thuyết về kiệt quệ tài chính Kiệt quệ tài chính là thuật ngữ được đề cập đến trong lý thuyết thay đổi cấu trúc vốn của DN. Nghiên cứu của Modigliani và Miller (1963) đã đưa ra lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn với yếu tố thuế. Lý thuyết này giải thích vì sao DN thường tài trợ một phần nợ vay trong cấu trúc vốn. Dưới góc độ quản lý tài chính, DN phải đối mặt với nguy cơ kiệt quệ tài chính khi lựa chọn tài trợ bằng nợ vì đây là nguồn tài trợ có thời hạn hoàn trả và DN có trách nhiệm thanh toán nợ gốc và tiền lãi (Ngô Kim Phượng & cộng sự, 2018).
Tuy nhiên, tài trợ bằng nợ cũng mang đến cho DN cơ hội tiết kiệm thuế, chi phí vốn (Brealey & cộng sự, 2008; Arnold, 2013; Ngô Kim Phượng & cộng sự, 2018); vì vậy quyết định tài trợ bằng nợ luôn là một trong những bài toán khó đối với các DN. Theo lý thuyết đánh đổi (trade-off theory) về cơ cấu vốn, DN phải cân nhắc sự đánh đổi giữa lợi ích từ khoản tiết kiệm thuế và rủi ro kiệt quệ tài chính khi ra quyết định sử dụng nợ, theo đó khi DN duy trì mức độ sử dụng nợ thấp và rủi ro kiệt quệ tài chính chưa đáng kể thì giá trị DN sẽ gia tăng nhờ đóng góp của khoản tiết kiệm thuế nhiều hơn, và giá trị DN sẽ tiếp tục gia tăng cùng với việc gia tăng mức độ sử dụng nợ. Nếu chi phí kiệt quệ tài chính trở nên đáng kể, vượt trội hơn so với phần đóng góp của khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay thì giá trị DN sẽ giảm, và giá trị đó sẽ tiếp tục giảm cùng với gia tăng mức độ sử dụng nợ (Brealey & cộng sự, 2008; Arnold, 2013). Theo Huỳnh Thị Cẩm Hà (2020), lý thuyết về kiệt quệ tài chính giải thích lợi ích của việc sử dụng nợ trong cấu trúc vốn giúp gia tăng giá trị của DN do lợi ích 5 mang lại từ tấm chắn thuế của lãi vay.
Tuy nhiên, rủi ro có thể xảy ra khi hoạt động thu nhập của DN không đủ khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính đến hạn, khi đó DN sẽ rơi vào trạng thái kiệt quệ tài chính. Ở khía cạnh khác, dấu hiệu và quan điểm về kiệt quệ tài chính có thể thay đổi qua các nghiên cứu. Nghiên cứu của Beaver (1966) cho rằng một DN được xem là gặp thất bại (failure) khi DN mất khả năng chi trả các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn. Ngoài ra, Beaver (1966) còn cho thấy kiệt quệ tài chính là khi DN rơi vào các tình huống như: phá sản, vỡ nợ, vay thấu chi vượt mức tại ngân hàng, không chi trả cổ tức cổ phần ưu đãi.
Ross, Westerfield và Jaffe (1999); Altman và Hotchkiss (2006) đưa ra quan điểm rằng kiệt quệ tài chính còn diễn tả các tình huống khác nhau khi DN đối diện với khó khăn tài chính như thất bại, mất thanh khoản, vỡ nợ, phá sản. Thất bại là tình huống mà khi dòng tiền không đủ đáp ứng các nghĩa vụ tài chính hiện tại (Wruck, 1990). Shrader và Hickman (1993) đã lập luận rằng mất thanh khoản là khi tài sản của DN nhỏ hơn giá trị của các nghĩa vụ tài chính. Theo Altman và Hotchkiss (2006) thì vỡ nợ là thời điểm mà DN vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng và tình huống xấu nhất là DN tuyên bố phá sản.
Nghiên cứu của Blum (1974) cho thấy xác suất kiệt quệ tài chính của DN sẽ gia tăng khi dòng tiền vào từ HĐKD ngày càng giảm, trong khi dòng tiền ra ngày càng tăng. Amiyatosh Purnanandam (2007) đã đưa ra quan điểm rằng kiệt quệ tài chính là trạng thái dòng tiền thấp và DN phải gánh chịu các khoản lỗ mà không bị mất khả năng thanh toán. Titman (1984) đã chỉ ra 3 ảnh hưởng mà một DN kiệt quệ tài chính có thể gặp phải. Đầu tiên, một DN kiệt quệ tài chính có thể mất đi khách hàng, nhà cung cấp giá trị và các nhân viên chủ chốt.
Opler và Titman (1994) cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng các DN kiệt quệ tài chính mất thị phần đáng kể vào tay các đối tác uy tín của họ. Sử dụng dữ liệu từ ngành kinh doanh siêu thị, (Chevalier 1995a,b) tìm thấy bằng chứng rằng nợ làm suy yếu vị thế cạnh tranh của DN. Thứ hai, một DN kiệt quệ tài chính có khả năng vi phạm các giao ước hợp đồng hoặc bỏ lỡ các khoản thanh toán gốc/phiếu lãi mà không mất khả năng thanh toán. Cuối cùng, một DN kiệt quệ tài chính có thể phải từ bỏ các dự án có giá trị hiện tại thuần (NPV) dương do nguồn tài chính bên ngoài tốn kém (Froot, Scharfstein và Stein, 1993).
6 Như vậy, kiệt quệ tài chính là lý thuyết rộng diễn tả các tình huống khó khăn tài chính khác nhau mà một DN phải đối diện trong quá trình hoạt động. Kiệt quệ tài chính có thể xảy ra ở bất kì thời điểm nào trong chu kì sống của DN nếu DN không đáp ứng được các nghĩa vụ thanh toán. Kiệt quệ tài chính đi từ việc DN gặp thất bại đến mất thanh khoản, rồi đến tình trạng vỡ nợ và xấu nhất là DN nộp đơn chính thức xin phá sản. Bài khoá luận này sử dụng thuật ngữ kiệt quệ tài chính để thay thế cho các thuật ngữ khác diễn tả tình trạng khó khăn tài chính của DN.
Tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro kiệt quệ tài chính với doanh nghiệp 1. Đối với doanh nghiệp Việc đánh giá rủi ro kiệt quệ tài chính là rất quan trọng với DN vì nó giúp các DN có thể xác định được mức độ an toàn và khả năng thanh toán nợ của DN đó, ngoài ra nó là một công cụ đắc lực giúp các DN có thể đưa ra các quyết định kinh doanh và tài chính đúng đắn, tránh được các rủi ro tiềm ẩn và cải thiện HĐKD. Theo bài nghiên cứu của Burksaitiene và Mažintienė (2012), trong một DN, việc dự báo chính xác những tỷ lệ rủi ro kiệt quệ tài chính sẽ cung cấp thêm thời gian cần thiết để những nhà quản lý có thể tạo ra những chiến lược nhằm hạn chế phá sản DN trong tương lai. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy DN thường có xu hướng đánh giá thấp rủi ro và đánh giá cao khả năng một DN sắp vỡ nợ có thể phục hồi thành công.
Theo quan điểm của Mackevičius, Šneidere & Tamulevičienė (2018), mỗi chủ DN cần có những phương án dự phòng và chiến lược để duy trì hoạt động ổn định đồng thời kết hợp phân tích những yếu tố quan trọng trong rủi ro kiệt quệ tài chính để từ đó nâng cao hiệu quả HĐKD của DN trong dài hạn. Việc đánh giá rủi ro kiệt quệ tài chính giúp DN cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng khả năng sinh lời bằng việc tối ưu hoá quản lý tài chính của DN đó. Nếu một DN không thể đánh giá và quản lý được rủi ro về kiệt quệ tài chính, DN đó dễ rơi vào tình trạng nợ nần và dẫn đến phá sản, gây thiệt hại không chỉ về HĐKD, tình hình tài chính mà còn ảnh hưởng đến danh tiếng của DN đó. 7 Đánh giá rủi ro kiệt quệ tài chính giúp các nhà quản lý có thể đánh giá được khả năng thanh toán nợ, tính thanh khoản của DN và dự báo tình hình tài chính trong tương lai.
Điều này giúp họ có thể đưa ra các quyết định đúng đắn như chọn lựa các nguồn tài chính phù hợp, định giá lại tài sản, cắt giảm chi phí, tăng cường quản lý công nợ, tăng cường hiệu quả quản lý tài sản và quản lý rủi ro tài chính. Vì vậy, quản trị DN hiệu quả là một yếu tố không thể thiếu trong mỗi DN nếu muốn tồn tại bền vững.