Chương 1 nêu lên tính cấp thiết của đề tài và dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm đi trước để đưa ra chủ đề nghiên cứu cho bài luận văn, trình bày khái quát mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp sử dụng, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, bố cục của nghiên cứu góp phần đem lại cái nhìn tổng quan hơn về bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trong chương 2, luận văn sẽ trình bày các quan điểm có liên quan đến rủi ro phá sản, những yếu tố tác động đến rủi ro phá sản doanh nghiệp, giới thiệu mô hình Z-score của Altman, lược khảo một số nghiên cứu thực nghiệm trước đó về dự báo phá sản trong và ngoài nước làm cơ sở cho việc ra mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu trong chương 3. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 tập trung thiết lập mô hình nghiên cứu, các bước thực hiện nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, cách xác định biến phụ thuộc và các biến số độc lập của mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Đưa ra các kết quả phân tích gồm kết quả thống kê mô tả dữ liệu các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu, kết quả phân tích tương quan các biến, kiểm định đa cộng tuyến, đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp nhất và kiểm định lại kết quả của mô hình.
7 Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Trình bày tóm tắt các kết quả mà nghiên cứu đạt được, đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro phá sản của doanh nghiệp. Đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài và xác định hướng nghiên cứu trong tương lai. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Rủi ro phá sản 2.1 Khái niệm rủi ro phá sản Trong nền kinh tế thị trường, việc tham gia và rời khỏi thị trường của các doanh nghiệp tạo nên nền tảng của quá trình cạnh tranh, đó là việc giữ lại hay tăng thêm các nguồn lực hiệu quả và loại bỏ đi các tác nhân không hiệu quả khỏi ngành, đảm bảo duy trì đủ số lượng doanh nghiệp trong ngành, đảm bảo quy trình sản xuất hiệu quả thỏa mãn nhu cầu thị trường. Cạnh tranh tạo động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.
Việc tham gia hay rời khỏi thị trường của một doanh nghiệp không phải lúc nào cũng là quy luật tự nhiên, đây là một hiện tượng có thể quan sát được thông qua hoạt động kinh doanh thay đổi, nguồn lực thay đổi, lĩnh vực kinh doanh thay đổi. Sự suy giảm trong kinh doanh, bị đảo thải khỏi thị trường được coi như một quá trình rủi ro phá sản và khi tình trạng kiệt quệ ở mức độ nghiêm trọng sẽ dẫn đến kết quả cuối cùng là phá sản. Phá sản được coi là biện pháp cuối cùng để giải thoát trách nhiệm cho chủ doanh nghiệp. Ở mỗi quốc gia với các đặc trưng kinh tế khác nhau sẽ có những quy định về phá sản doanh nghiệp khác nhau.
Ở Anh, quy định phá sản được đề cập trong Luật phá sản 1986 và hướng dẫn bổ sung trong Luật doanh nghiệp 2002, trong đó, phá sản được chia thành 2 giai đoạn là giai đoạn đưa vào diện quản lý và giai đoạn tiến hành thanh lý. Một công ty được cho là mất khả năng thanh toán khi tổng khoản nợ đến hạn thanh toán vượt quá 750 GBP và bên chủ nợ yêu cầu công ty phải thanh toán các khoản nợ quá 3 tuần mà không nhận được phản hồi nào, hoặc khi có bằng chứng cho thấy tổng tài sản của công ty nhỏ hơn giá trị nợ mà công ty đó phải thanh toán. Tại Hoa Kỳ, những công ty nộp đơn phá sản lên Tòa án thì Tòa án sẽ cố gắng cơ cấu lại hoặc ra quyết định phát mại. Theo chương 7, các cá nhân và công ty khi được đánh giá là không có khả năng đáp ứng các yêu cầu cơ cấu lại thì sẽ phải tiến hành thanh lý tất cả 9 các tài sản để trả các khoản nợ cho chủ nợ.
Trong quá trình thanh lý, người được Tòa án ủy thác (có thể là luật sư hoặc người kinh doanh) sẽ nhận nhiệm vụ giám sát tài sản của công ty. Người nhận ủy thác sẽ bán đấu giá tài sản và phân phối dựa theo nguyên tắc ưu tiên các khoản nợ có đảm bảo rồi đến các khoản nợ không có đảm bảo. Đối với việc cơ cấu lại, chương 13 quy định đối tượng được áp dụng hình thức cơ cấu lại là những đối tượng đáng tin cậy và thỏa được các điều kiện như phải xây dựng được một kế hoạch trả nợ hợp lý, đồng thời thuyết phục được chủ nợ về chính sách trả nợ. Ngoài ra, các đối tượng được áp dụng hình thức này phải có khoản nợ không vượt quá mức nợ quy định ở mỗi bang và dựa vào mức nợ sẽ quyết định kế hoạch trả nợ thích hợp trong 3 năm hoặc 5 năm.
Tại Việt Nam, Điều 4 Luật phá sản (2014) quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản. Doanh nghiệp, hợp tác xã được coi là mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. Như vậy, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản thì một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán mới được coi là phá sản. Luật phá sản quy định khoảng thời gian 3 tháng nợ quá hạn cho phép doanh nghiệp có thêm thời gian thu xếp thanh toán các khoản nợ, đồng thời hạn chế tình trạng chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gây áp lực với doanh nghiệp đang gặp khó khăn.
Ngoài ra, trong khoảng thời gian kể từ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến khi Tòa án chính thức ra quyết định phá sản nếu doanh nghiệp có thể khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán thì thủ tục phá sản sẽ chấm dứt (Điều 86, Luật phá sản, 2014). Tuy có những điểm khác biệt nhất định, song nhìn chung bản chất của phá sản đều tập trung vào khả năng thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp. Phá sản như một bằng chứng của pháp luật về việc mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn của một doanh nghiệp. Mục đích là ngăn ngừa sự lừa gạt, gian lận của doanh nghiệp, để bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư, người cho vay và để tạo cơ hội hình thành việc kinh doanh mới sau khi thanh toán được tất cả các khoản nợ phải trả.
Nếu một doanh 10 nghiệp đi đến phá sản thì sẽ tiến hành quy trình cải cách lại hoặc đóng cửa. Tại Việt Nam, thanh lý tài sản sẽ là lựa chọn duy nhất. Trong quá trình thanh lý, tài sản của doanh nghiệp sẽ được bán và sử dụng để trả nợ, các tổ chức tín dụng sẽ là những người chịu rủi ro ít nhất vì được trả nợ đầu tiên, các cổ đông sẽ là người cuối cùng được trả. Chính sự đa dạng trong khái niệm phá sản ở các quốc gia đã dẫn đến sự khác biệt trong việc chọn lựa đối tượng trong các nghiên cứu về mô hình dự báo phá sản tại các quốc gia và các thời kỳ.
William Beaver (1966) đưa ra đối tượng nghiên cứu phá sản là khi doanh nghiệp xảy ra một trong các sự kiện như tuyên bố phá sản, vỡ nợ trái phiếu, thâm hụt tài khoản thanh toán hay không có khả năng trả cổ tức cổ phiếu ưu đãi. Trong nghiên cứu của Altman (1968), đối tượng nghiên cứu là doanh nghiệp phá sản theo đúng quy định tại chương 10 Luật phá sản của Hoa Kỳ năm 1938, các doanh nghiệp tự nộp đơn xin phá sản hoặc có từ 3 đến 5 chủ nợ có tổng khoản nợ từ 5000 USD trở lên tiến hành nộp đơn yêu cầu thanh lý tài sản. Zhang (2007) khi nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Trung Quốc thì cho rằng doanh nghiệp bị đưa vào diện kiểm soát khi thu nhập tích lũy hai năm liên tiếp âm hoặc giá trị tài sản ròng trên cổ phiếu thấp hơn giá trị sổ sách. Sori và Karbhari (2004) khi nghiên cứu trên thị trường Malaysia quan điểm rằng các doanh nghiệp bị khủng hoảng tài chính hoặc theo quy định Luật doanh nghiệp Malaysia năm 1965 hoặc các doanh nghiệp được các cấp thẩm quyền phê duyệt cho tái cơ cấu để khôi phục tài chính.
Pongsatat và cộng sự (2004) cho rằng phá sản là sự bất lực của một doanh nghiệp để tiếp tục các hoạt động kinh doanh hiện tại khi phải gánh một nghĩa vụ nợ cao. Phá sản xảy ra khi hoặc dòng tiền hoạt động của doanh nghiệp không đủ để thực hiện nghĩa vụ hiện tại – tức là không có khả năng trả các khoản nợ - hoặc khi giá trị ròng của doanh nghiệp là âm – tức là giá trị của tài sản thì ít hơn giá trị của các khoản phải trả (Knox và cộng sự, 2008). Altman và cộng sự (2007) đưa ra quan điểm các công ty bị thất bại tài chính là các công ty bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt khi xảy ra một trong các tình trạng thu nhập tích lũy bị âm hơn 2 năm liên tục; hoặc giá trị tài sản ròng trên cổ phiếu thấp hơn giá trị sổ sách; công ty có 11 thu nhập âm trong 1 năm đồng thời có vốn cổ phần trong năm đó thấp hơn vốn điều lệ; hoặc công ty nhận được cảnh báo liên tiếp của kiểm toán viên. Nguyễn Trọng Hòa (2009) cho rằng doanh nghiệp có rủi ro phá sản khi không có khả năng thực hiện nghĩa vụ nợ, hoặc vốn hoạt động thuần thường xuyên âm; hoặc giá trị thị trường của doanh nghiệp nhỏ hơn nợ phải trả.
Như vậy, không có một định nghĩa chính xác nào về phá sản, tuy nhiên có thể khẳng định rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro phá sản của một công ty là do sự suy yếu về khả năng thanh toán, tức là công ty không có khả năng để thực hiện nghĩa vụ nợ. Trong thực tế ở Việt Nam, khi áp dụng Luật Phá sản cho thấy có rất ít công ty tuyên bố phá sản, vì vậy, số lượng công ty phá sản đưa vào quan sát cùng với những hạn chế trong việc thu thập số liệu sẽ không đáp ứng được về kích cỡ mẫu trong phân tích.