CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Rủi ro phá sản 1. Khái niệm rủi ro Trong quá trình sản xuất, hoạt động và kinh doanh, các doanh nghiệp thường gặp nhiều rủi ro trên nhiều khía cạnh khác nhau. Với mỗi quyết định của mình, nhà quản lý luôn cân nhắc các yếu tố rủi ro tiềm ẩn nội sinh từ trong doanh nghiệp và ngoại sinh từ những yếu tố khách quan bên ngoài.
Khoản 5 Điều 2 trong Quyết định số 428/QĐ-UBCK ngày 11/07/2013 của chủ tịch Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước nêu rõ: “Rủi ro là các sự kiện không chắc chắn có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, gây tổn thất doanh thu, lợi nhuận, vốn, các thiệt hại vật chất và phi vật chất khác hoặc không đạt được mục tiêu kinh doanh của công ty hoặc mục tiêu của khách hàng ủy thác.” Trong số những loại rủi ro như rủi ro về thanh khoản, hoạt động hay hồ sơ pháp lý,., nhóm rủi ro phá sản là một mảng nghiên cứu quan trọng và vô cùng cấp thiết do nó thường tác động trực tiếp tới sự sống còn của một doanh nghiệp. Rủi ro phá sản Trong môi trường kinh tế năng động như hiện nay, nhiều chủ doanh nghiệp vay nợ với lãi suất ưu đãi tại các ngân hàng để huy động dòng tiền đầu tư khởi nghiệp, sắm sửa máy móc thiết bị và tài sản. Tuy nhiên lãi vay không phải chi phí duy nhất doanh nghiệp cần chi trả, và thực tế cho thấy một lượng không nhỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đúng hạn. Mỗi khoản vay khi trễ hạn sẽ phát sinh tiền phạt, cộng với việc lãi vay cộng dồn liên tục nhiều khả năng khiến doanh nghiệp rơi vào trạng thái mất khả năng thanh toán.
Có thể thấy rủi ro phá sản của doanh nghiệp và khả năng thanh toán của doanh nghiệp có liên hệ mật thiết tới nhau. Cụ thể, khoản 2 Điều 4 Luật phá sản 2014 quy định rõ: tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản được coi là phá sản. Trong khoản 1 Điều 4 cùng bộ Luật cũng giải nghĩa mất khả năng thanh toán là việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 3 đến hạn. Có hai trường hợp DN, HTX không thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong thời hạn 03 tháng, tính từ ngày đến hạn thanh toán: thứ nhất là việc DN, HTX không có tài sản để thực hiện thanh toán các khoản nợ; thứ hai là khi DN, HTX có tài sản nhưng không trả nợ.
Nhờ việc đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ, chúng ta có thể đưa ra bằng chứng theo pháp luật về việc DN, HTX mất khả năng thanh toán và xác định liệu một công ty có thể phá sản hay không. Quy trình thẩm định này giúp bảo vệ lợi ích của người cho vay khỏi các gian lận của bên đi vay, đồng thời trao cơ hội hình thành công việc sản xuất kinh doanh mới sau khi các khoản nợ đã được thanh toán đầy đủ. Vai trò của việc dự báo rủi ro phá sản Nếu một doanh nghiệp vỡ nợ, doanh nghiệp sẽ phải làm thủ tục thỏa thuận dàn xếp với chủ nợ hoặc bộ phận tín dụng ngân hàng, hoặc nộp đơn phá sản lên toà án. Khi quyết định phá sản được đưa ra, công ty có thể tổ chức cải tổ lại hoặc phát mại (đóng cửa công ty).
Tại Việt Nam, thủ tục cần thiết sau khi nộp đơn phá sản là thanh lý tài sản. Trong quá trình này, tài sản của công ty được bán đi và số tiền được sử dụng để trả nợ. Chủ nợ chịu rủi ro ít nhất vì khoản tiền thanh lý tài sản được trả đầu tiên cho họ, trong khi cổ đông là những người cuối cùng được trả. Để tránh thiệt hại cho bản thân, tất cả đối tượng tham gia đầu tư vào hoạt động của doanh nghiệp đều cần thực hiện quản trị rủi ro nỡ vợ.
Từ phía doanh nghiệp Trong quản trị tài chính doanh nghiệp, việc xây dựng mô hình để xác định rủi ro trong kinh doanh nói chung và rủi ro phá sản nói riêng sẽ cho ban lãnh đạo và các nhà quản lý thời gian cần thiết để thực hiện các chiến lược tăng cường sức khoẻ tài chính của công ty. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệp có thiên hướng đánh giá thấp rủi ro và đánh giá quá cao xác suất một doanh nghiệp có thể hồi phục về mặt tài chính. Là người đứng dầu doanh nghiệp, nhà quản trị cần đầu tư thời gian và nhân lực xây dựng bộ chỉ số theo dõi tình hình, phát cảnh báo sớm cũng như xây chiến lược dự phòng trong thời kỳ suy thoái để duy trì hoạt động về lâu dài. Cần khẳng định rằng quản trị rủi ro là bộ phận không thể thiếu trong bộ máy doanh nghiệp.
Từ phía nhà đầu tư Trước khi quyết định đầu tư vào một doanh nghiệp, nhà đầu tư cần cẩn trọng trong việc xem xét tình hình tài chính doanh nghiệp để sớm phát hiện các thông tin tiêu cực hoặc những dấu hiệu gian lận trong quá trình lập báo cáo. Không chỉ xem xét chỉ tiêu về lợi nhuận, cần có đánh giá và phân tích rõ ràng khoản mục nợ phải trả và các nghĩa vụ về nợ của công ty. Trong trường hợp doanh nghiệp giải thể và phải thanh lý tài sản để trả nợ, cổ đông là những người cuối cùng được trả. Xét thấy mình là đối tượng bị tác động nhiều nhất khi doanh nghiệp vỡ nợ, bản thân nhà đầu tư đã sử dụng nhiều công cụ dự báo khi lựa chọn doanh nghiệp để đưa vào danh mục đầu tư của mình.
Khuyến nghị của Karamzadeh (2012) đề cập tới việc nâng cao mức độ tin cậy và tính khách quan bằng cách áp dụng mô hình đo lường chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính. Nhà đầu tư có thể kiểm tra dự báo vỡ nợ để rót vốn đầu tư vào những doanh nghiệp xứng đáng và hạn chế tổn thất. Từ phía người cho vay Các tổ chức tín dụng và cá nhân cho vay có thể xem xét sử dụng mô hình Z- score để đo lường rủi ro mất khả năng thanh toán trước khi ra quyết định cho vay. Đặc biệt với định chế tài chính lớn như các ngân hàng, việc đánh giá rủi ro vỡ nợ là vô cùng quan trọng.
Nếu một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thì nợ xấu của ngân hàng tăng theo và việc thu hồi nợ trở nên cực kì khó khăn. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người cho vay sẽ mong muốn chỉ số khả năng thanh toán thật cao trong ngắn hạn bởi doanh nghiệp sẽ có nhiều khả năng chi trả hơn, đồng nghĩa với việc rủi ro thanh khoản cũng được cải thiện. Một số nguyên nhân thất bại của một doanh nghiệp được Karels và Prakash (1987) liệt kê gồm: không trả nợ vay, trái phiếu vỡ nợ, rút quá hạn mức tài khoản. và các tác giả cũng khuyến nghị doanh nghiệp nên thỏa thuận với chủ nợ một cách hợp lý để tránh tình trạng nợ quá hạn dẫn đến phá sản.
Khung lý thuyết về mô hình Z-score Những ngân hàng và tổ chức tín dụng, những nhà đầu tư lớn đang ngày càng chú trọng tới việc đánh giá mức độ rủi ro khi đầu tư vào một doanh nghiệp. Bên cạnh việc đánh giá tình trạng nợ qua hệ số đòn bẩy tài chính, từ giữa những năm 1960 trở lại đây đã có rất nhiều nghiên cứu về các chỉ số giúp nhà đầu tư đánh giá rủi ro tốt hơn và dự đoán nguy cơ phá sản của doanh nghiệp. Một số mô hình rủi ro phá sản phổ biến có thể kể đến là mô hình phân tích phân biệt đơn biến của Beaver (1966), mô hình Z-score dự đoán khả năng phá sản trong vòng hai năm tiếp theo của Altman (1968) và mô hình O-score phân tích logit của Ohlson (1980). Các nghiên cứu trên thường sử dụng dữ liệu đầu vào là thông tin công khai trên báo cáo tài chính để đưa vào mô hình, từ đó thu được chỉ báo có tính hiệu quả cao trong việc đo lường “sức khoẻ” của các doanh nghiệp.
Nổi trội và hiệu quả hơn cả chính là mô hình Z-score của Altman (1968), điều này được thể hiện rõ ở số lượng lớn các nghiên cứu về mô hình Z-score của nhiều nhóm tác giả khác nhau và tính ưu việt ở nhiều lĩnh vực, được ứng dụng lên nhiều nền kinh tế trên thế giới. Mô hình Z-score của Altman Mô hình Z-score là một phát minh của giáo sư E. Altman vào năm 1968, được dựa trên kỹ thuật thống kê phân tích đa phân biệt (MDA) khi ông nghiên cứu nguy cơ phá sản của các công ty tại Mỹ. Trong những năm 1930 MDA được ứng dụng chủ đạo trên lĩnh vực khoa học sinh học và hành vi, gần đây đã phổ biến hơn trong môi trường kinh doanh thực tế và được nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực tài chính.
Kỹ thuật MDA có tác dụng trong việc xem xét các đặc điểm chung của các công ty có liên quan, cũng như sự tương tác của các thuộc tính này. Mô hình Z thực hiện phân tích tuyến tính năm đại lượng, từ đó thấy được trọng số của từng đại lượng và cho cái nhìn khách quan về việc phân loại các công ty theo mức độ rủi ro phá sản. Giáo sư lựa chọn mẫu gồm 66 doanh nghiệp sản xuất, bao gồm 33 doanh nghiệp hoạt động tới mốc thời gian năm 1966 và nửa còn lại đã nộp đơn phá sản trong khoảng từ năm 1946 tới năm 1965. Điều kiện chọn mẫu dựa theo phương pháp ngẫu nhiên 6 phân tầng theo một số đặc điểm về tính minh bạch của công bố thông tin, quy mô và ngành của doanh nghiệp: giới hạn mẫu gồm những doanh nghiệp có tổng tài sản trong khoảng từ 1 triệu tới 25 triệu đô la.
Sau khi xác định nhóm đối tượng ban đầu, giáo sư thu thập dữ liệu trong các tuyên bố, bảng cân đối kế toán và lập danh sách 22 biến số là các chỉ số tài chính. Cần thống nhất quy trình trước khi chốt được danh sách biến: quan sát ý nghĩa thống kê, mức độ đóng góp tương đối của các biến; mối tương quan giữa các biến; độ chính xác của dự đoán với các dữ liệu khác nhau và nhận định của nhà phân tích. Các biến được chia thành năm loại gồm thanh khoản (liquidity), lợi nhuận (profitability), đòn bẩy (leverage), khả năng thanh toán (solvency) và hoạt động (activity). Hàm phân biệt đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa ngành sản xuất như sau: 𝑍 = 0.