CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Khái quát chung về hợp đồng lao động 1. Khái niệm hợp đồng lao động Trong nền kinh tế thị trường, QHLĐ được coi là một quan hệ phổ biến rộng rãi đối với tất cả mọi người. Để có thể nuôi sống bản thân và trang trải cho các chi phí của chính bản thân và gia đình thì mỗi người bắt buộc phải tham gia lao động sản xuất và tham gia vào QHLĐ để tạo ra của cải và vật chất.
Theo đó, con người cần bán sức lao động của mình để đổi lại một khoản thù lao là tiền hoặc vật chất nhất định. Có thể nhận thấy rằng đã có nhiều sự khác biệt so với trước đây khi mà nền kinh tế tập trung không đồng tình với việc mua bán sức lao động thì nền kinh tế thị trường với sự đảm bảo của pháp luật và để cho sự vận động tự nhiên của quy luật cung cầu của thị trường thì sức lao động của con người bắt đầu trở thành một loại hàng hóa đúng nghĩa hay nói cách khác thì sức lao động được coi là một loại hàng hóa đặc biệt. Từ việc sức lao động được xem là một loại hàng hóa thì nơi diễn ra việc mua bán hàng hóa sức lao động được hình thành và tạo nên thị trường lao động. Thị trường lao động có thể được hiểu một cách đơn giản rằng đó là nơi diễn ra các hoạt động mua bán sức lao động giữa hai chủ thể chủ yếu là NLĐ và NSDLĐ tương ứng với bên bán và bên mua và làm phát sinh các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên thông qua hình thức pháp lý là HĐLĐ.
3 Khi xem xét đến yếu tố lịch sử, luật lao động được xem là đứa con sinh sau đẻ muộn bởi chính việc luật lao động ra đời sau luật dân sự. Chính vì vậy, trong quá khứ các vấn đề pháp lý liên quan đến QHLĐ nói chung hay hợp đồng trong lĩnh vực lao 3 Đoàn Thị Phương Diệp (2018), Giáo trình Luật lao động, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr.
14 động nói riêng đều được điều chỉnh bằng các quy định chung của luật dân sự. 4 Sau đó, với sự phát triển của xã hội và khoa học pháp lý, các QHLĐ được xem là ngày càng trở nên phức tạp, nhiều vấn đề ngày càng phát sinh và đòi hỏi một khung pháp lý riêng đối với QHLĐ. Vì vậy, trong phạm vi của pháp luật dân sự không thể bao quát hết mọi vấn đề của QHLĐ như trước đây được nữa. Có thể thấy rằng sự đòi hỏi phải có một khung pháp lý riêng đối với QHLĐ được xem là tất yếu bởi chính sự đặc biệt của quan hệ này.
Vậy nên, chính vì sự cần thiết đó mà luật lao động được hình thành trong bối cảnh như vậy. 5 Chính vì sự hình thành vủa luật lao động mà các khái niệm về HĐLĐ cũng được quy định một cách cụ thể hơn so với trước đây. Theo đó, khi đối chiếu với pháp luật Canada thì HĐLĐ được xem là một thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ trong đó nêu ra các điều khoản về mối quan hệ giữa họ, chẳng hạn như về mức lương và tiêu chuẩn dịch vụ của người lao động. 6 Tại Việt Nam, ban đầu HĐLĐ được gọi dưới tên là “khế ước làm công” hay “giao kèo” thuê mướn lao động theo quy định của văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh vấn đề HĐLĐ là Sắc lệnh số 29-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 12/03/1947 7 và Sắc lệnh số 77-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 22/05/1950.
8 Dựa trên quy định đầu tiên về “khế ước làm công” thì cho đến nay HĐLĐ đã có nhiều khái niệm thông qua nhiều BLLĐ đã được ban hành như BLLĐ 1994, BLLĐ 2012 và gần đây nhất là BLLĐ 2019. Theo đó, hiện nay HĐLĐ được quy định tại Điều 13 BLLĐ 2019 có khái niệm cụ thể như sau: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, tập I, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 5 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Luật lao động, Nhà xuất bản Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, TP.
Hồ Chí Minh, tr.ca Free Legal Answers, Employee Contracts: “An employment contract is an agreement between an employer and employee that outlines the terms of their relationship, such as the employee’s salary and standard of service”, <https://www.ca/legal-answers/employment-contracts/> truy cập ngày 18/05/2021. 7 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Luật lao động, Nhà xuất bản Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr.
8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”. Theo định nghĩa trên, HĐLĐ được hiểu một cách tổng quát như sau: Thứ nhất, bản chất của HĐLĐ được xem là thỏa thuận cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ về một số vấn đề cơ bản để xác lập nên QHLĐ. QHLĐ trong trường hợp xác lập dựa trên HĐLĐ này được gọi là QHLĐ cá nhân để phân biệt với QHLĐ tập thể khi mà có sự thỏa thuận tập thể giữa đại diện tập thể lao động và đại diện của NSDLĐ về các vấn đề thuộc QHLĐ.
9 Thứ hai, chủ thể của HĐLĐ sẽ bao gồm hai bên là NLĐ và NSDLĐ. Theo đó, định nghĩa về NLĐ và NSDLĐ được quy định tại khoản 1 và 2 Điều 3 BLLĐ 2019 cụ thể như sau: (i) NLĐ là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này. (ii) NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Thứ ba, đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công hay tiền lương. Như đã nói ở trên, sức lao động của con người là hàng hóa đặc biệt và loại hàng hóa này không thể nào định lượng thông thường được và cũng không thể chuyển giao loại hàng hóa sức lao động từ NLĐ cho NSDLĐ như mua bán các loại hàng hóa thông thường được. Chính vì vậy, đối tượng của HĐLĐ phải được biểu hiện dưới hình thức là việc làm để thông qua việc làm NLĐ dần dần chuyển sức lao động của mình cho NSDLĐ. Lưu Bình Nhưỡng (Chủ biên), TS.
Nguyễn Xuân Thu và TS. Đỗ Thị Dung (2015), Bình luận khoa học Bộ luật Lao động (năm 2012), Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, tr. 16 Thứ tư, HĐLĐ được thể hiện dưới hai hình thức đó là lời nói và văn bản. Đối với HĐLĐ dưới hình thức là lời nói thì NSDLĐ và NLĐ chỉ được giao kết dưới hình thức này đối với những hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng hoặc các trường hợp cụ thể khác được luật định.
Thêm vào đó, BLLĐ 2019 còn có một quy định mới được cho là phù hợp và dễ dàng cho NSDLĐ và NLĐ ở những nơi có khoảng cách khá xa nhau hay các trường hợp mà cả hai bên không thể gặp gỡ trực tiếp để giao kết hợp đồng, đó là HĐLĐ được giao kết qua phương tiện điện tử theo quy định tại Điều 14 BLLĐ 2019. Đây được xem là một dạng của HĐLĐ dưới hình thức bằng văn bản và có giá trị như HĐLĐ bằng văn bản chứ không được xem là một hình thức khác của HĐLĐ ngoài lời nói và văn bản. Đặc điểm của hợp đồng lao động HĐLĐ cũng là một loại hợp đồng cho nên nó sẽ có bản chất của một hợp đồng. Theo đó hợp đồng theo sự hiểu biết rộng rãi của Cộng đồng Châu Âu cũng như giới Quốc tế được hiểu là thể hiện của sự thỏa thuận về mặt ý chí của các bên và làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ giữa các bên với nhau.
11 Thêm vào đó, hợp đồng theo Từ điển tiếng Việt được hiểu “là sự thỏa thuận giao ước giữa hai hay nhiều bên quy định các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết thành văn bản”. 12 Vì vậy, HĐLĐ sẽ mang trong mình những đặc điểm chung của hợp đồng đó là tính khế ước và thể hiện sự tự do thỏa thuận theo ý chí của các bên trong hợp đồng. Bên cạnh đó, chính vì tính đặc thù của HĐLĐ có liên quan đến một loại hàng hóa đặc biệt là sức lao động cho nên HĐLĐ sẽ có những đặc điểm riêng biệt so với các loại hợp đồng khác sau đây: 13 Thứ nhất, đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công hoặc tiền lương theo khái niệm HĐLĐ thì việc các bên trong hợp đồng nhắm tới là việc làm và thù lao của 10 Nguyễn Ngọc Phương Hồng, “Hợp đồng lao động điện tử- Hình thức hợp đồng mới để thích ứng với thời kỳ Covid và hậu Covid”, (Tọa đàm những điểm mới Bộ luật Lao động 2019, TP. Hồ Chí Minh, 19/11/2020).
11 Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) và Quỹ Pháp luật châu Âu lục địa (2011), Các thuật ngữ hợp đồng thông dụng (Terminologie Contractuelle Commune), Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, tập I, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 13 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Luật lao động, Nhà xuất bản Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, TP.
Hồ Chí Minh, tr. 17 việc thực hiện các công việc đó. NLĐ bán thứ hàng hóa đặc biệt mà mình có đó là sức lao động để đổi lại việc NSDLĐ trả công hoặc tiền lương tương ứng với công sức mà NLĐ đã bỏ ra để thực hiện các công việc. 14 Thứ hai, NLĐ phải tự mình thực hiện công việc trong hợp đồng vì hàng hóa mà NLĐ bán cho NSDLĐ là sức lao động của chính NLĐ đó được thể hiện dưới hình thức là việc hoàn thành các công việc.