Chương 1 khái quát, hệ thống và bình luận các nguyên tắc co bản của pháp luật quốc tế về ĐPCDTHHĐ. Trong Chương 2, đề tài nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ĐPCDTHHĐ, bao gồm các quy định mang tính chất nền tảng, điều chỉnh chung trong chế định hợp đồng của BLDS năm 2015 và các quy định đặc thù về đơn phương chấm đứt hợp đồng trong một số luật có liên quan như Luật Thương mại năm 2005, BLLĐ năm 2019, Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Kết qua nghiên cứu cho thấy, về cơ bản, các căn cứ pháp lý và cau trúc cơ bản của pháp luật dan sự Việt Nam vẫn có khả năng tự điều chỉnh và đảm bảo ở một mức độ nhất định tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật về các căn cứ và hệ quả của ĐPCDTHHĐ. Tuy nhiên, néu đem xét trong từng văn bản luật cụ thể, đồng thời có sự đối sánh với BLDS năm 2015 thì đã thấy xuất hiện nhiều điểm chưa hợp lý hoặc còn vướng mắc, mâu thuẫn.
Chẳng hạn, các quy định về căn cứ ĐPCDTHHĐ nói chung và một số loại hợp đồng cụ thé trong BLDS vẫn chưa thống nhất; bản chất của DPCDTHHD là một quyền năng của các bên trong quan hệ hợp đồng hay một sự kiện pháp lý làm châm dứt hợp đồng chưa thật sự rõ rang; hậu quả pháp lý (bao gồm quyên, nghĩa vụ hoặc trách nhiệm pháp lý của các bên) khi hợp đồng bị đơn phương cham dứt còn mâu thuẫn giữa luật chung là BLDS và luật chuyên ngành (như BLLĐ hoặc 210 Luật Thuong mại.) cho thay sự thiếu kết nói và đồng bộ giữa các văn bản luật khi cùng điều chỉnh về một van đề. Chương 3 tập trung làm rõ tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thông qua phân tích các số liệu và bản án từ hệ thống TA. Các tranh chấp về ĐPCDTHHĐ điền hình và thường gặp đã được phân tích tập trung trong các lĩnh vực lao động; mua bán tài sản, hàng hoá; xây dựng, thi công; dịch vụ. Về cơ bản, các quy định về ĐPCDTHHĐ trong BLDS năm 2015 và một số luật có liên quan đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, làm nền tảng bảo vệ quyền và lợi ích của các bên chủ thể tham gia hợp đồng.
Qua tìm hiểu công tác triển khai thực hiện các quy phạm pháp luật về ĐPCDTHHĐ trên thực tế, nhiều tranh chap về DPCDTHHD trong các lĩnh vực từ din sự, kinh doanh thương mai và lao động đã được Tòa án giải quyết đúng đắn, hợp tình hợp lý. Tuy nhiên, bên cạnh đó, thực tiễn xét xử các vụ án có liên quan đến DPCDTHHD vẫn còn tồn tại một số hạn ché, vướng mặc trong quá trình áp dụng pháp luật. Một số khó khăn mà Toà án gặp phải bao gồm vướng mắc trong xác định căn cứ áp dụng quyền đơn phương chấm dứt thực hiện một số loại hợp đồng cụ thể; xác định yếu tố lỗi; xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại; thủ tục thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng. Nhận thấy những khó khăn này và dựa trên các bất cập, hạn chế của quy định pháp luật có liên quan đã được chỉ rõ tại Chương 2, đề tài đã đưa ra nhiều kiến nghị hoàn thiện quy phạm của BLDS năm 2015 nói riêng và pháp luật dân sự nói chung (bao gom cả một số luật có liên quan như Luật Thương mại, Luật Viên chức, BLLĐ.), đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu qua của công tác áp dụng pháp luật, từ đó góp phần đảm bảo cho công tác này được thực hiện một cách thống nhất, hiệu quả trên thực tế.
211 PHAN II HE CHUYEN DE 212 Chuyên đề 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DON PHƯƠNG CHAM DỨT THỰC HIỆN HOP DONG ThS. Nguyén Huy Hoang Nam NCS. Nguyễn Tong Bảo Minh Trường Dai hoc Luật Hà Nội 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC DIEM CUA DON PHƯƠNG CHAM DUT THỰC HIỆN HỢP DONG 1.
Khái niệm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ĐPCDTHHĐ là một khái niệm pháp lý quan trọng của pháp luật hợp đồng nói riêng và pháp luật dân sự nói chung, gắn liền với chế định về cham dứt hợp đồng. Trong đó, có thể thấy ĐPCDTHHĐ về bản chất chính là một dạng của chấm dứt hợp đồng với những điểm đặc thù riêng, phân biệt với các trường hợp cham dứt khác. Do đó, dé phân tích khái niệm ĐPCDTHHĐ, trước tiên cần phải tiếp cận, làm rõ khái niệm chấm đứt hợp đồng. Dưới góc độ là một quan hệ pháp luật, quan hệ hợp đồng cũng tương tự như những quan hệ khác, đều phải trải qua các giai đoạn hình thành, thực hiện và kết thúc.
Trong đó, đối với kết thúc hợp đồng, hiện nay khoa học pháp lý vẫn còn tồn tại một số khái niệm khác nhau có liên quan như “hủy bỏ hợp đồng” (giải trừ hợp đồng) và “chấm dứt hợp đồng” (giải hiệu hợp đồng). Với hai khái niệm trên, hiện vẫn còn tồn tại một số quan điểm trái chiều xung quanh việc phân biệt hai khái niệm này, từ đó đẫn đến những cách tiếp cận khác nhau về chấm dứt hợp đồng. Tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ học, “hủy bỏ” được định nghĩa là bỏ di, coi là hoàn toàn không có hiệu lực hoặc giá tri nữa.) Trong khi đó, thuật ngữ “cham dứt” lại được hiểu là làm cho ngừng han, kết thúc. Với cách định nghĩa như trên, nếu ghép cơ học hai thuật ngữ “hủy bó” và “chấm dứt” với hợp đồng, có thé hiểu châm dứt hợp đồng là việc làm ngừng hoặc kết thúc quá trình thực hiện hợp đồng, trong khi đó hủy bỏ hợp đồng lại khiến cho hợp đồng bị coi là ' Viên Ngôn ngữ hoc (2003), Tit điển Tiếng Việt, NXB.
Da Nẵng - Trung tâm Từ điển học, tr. 213 hoàn toàn không có hiệu lực. Cách hiểu trên cho dù chưa thể hiện được đầy đủ bản chất của chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng, tuy nhiên đó vẫn là xuất phát điểm đề phát triển các quan điểm nhằm phân biệt hai khái niệm này trong khoa học pháp lý. Theo đó, trong khoa học pháp lý, để phân biệt hủy bỏ hợp đồng và châm dứt hợp đồng, có quan điểm cho rằng hủy bỏ hợp đồng “đưa đến hậu quả xóa hết hiệu lực của hợp đồng kể cả trong quá khứ”, còn chấm đứt hợp đồng “chỉ cham dit hiệu lực của hợp dong từ ngày giải hiệu ki Tương tự với cách tiếp cận trên, cũng có tác giả cho răng hủy bỏ hợp đồng “có hiệu lực hồi tố.
các bên được đối xử như thể là chưa có thỏa thuận giữa hai bên” còn chấm đứt hợp đồng “gid định trước rằng có một thỏa thuận hoàn toàn hợp lệ””. Có thé thay với các cách tiếp cận trên, châm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng là hai trường hợp của kết thúc hiệu lực của hợp đồng, được phân biệt với nhau chủ yếu dựa trên hậu quả pháp lý. Theo đó hủy bỏ hợp đồng sẽ có hiệu lực hồi tố làm cho hợp đồng không có hiệu lực ké từ thời điểm giao kết, do vậy các bên phải hoàn trả lại những gi đã nhận. Còn chấm dứt hợp đồng chỉ có thể làm kết thúc hiệu lực của hợp đồng ké từ thời điểm chấm dứt, theo đó chỉ làm cham đứt việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng giữa các bên.
Trái ngược với quan điểm trên, một số tác giả lại tiếp cận chấm đứt hợp đồng theo nghĩa rộng, bao hàm cả hủy bỏ hợp đồng, theo đó chấm ditt hợp đồng được xác định là sự kết thúc hợp đồng khi hợp đồng chưa được hoàn thành”. Từ những phân tích trên, có thé thay các tác giả đang có cách tiếp cận khác nhau về phạm vi của khái niệm cham dứt hợp đồng và cách tiếp cận nào cũng có những điểm hợp lý nhất định. Tuy nhiên, đặt trong phạm vi nghiên cứu về đơn phương cham dứt hop đồng, có lẽ sẽ hợp lý hợp khi tiếp cận chấm dứt hợp đồng theo nghĩa hẹp, chủ yếu hướng tới sự ? Vũ Văn Mẫu (1963), “Việt Nam dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khé ước”, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, Sài gòn, tr. Trích từ Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật hợp đẳng - Phần chưng, NXB.
Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. Markesinis - Hames Unberath - Angus Johnston (2006), “The German Law of Contract - A Comparative Treatise”, Hart Publishing Company, p. * Đặng Thi Hồng Tuyến (2023), “Các quy định về chấm ditt hợp déng trong pháp luật Việt Nam và một số nước dưới góc độ so sánh”, Luận án Tiên sĩ Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 214 chấm dứt thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả của các bên.
Với cách tiếp cận trên về cham dứt hợp đồng, hợp đồng có thé chấm dứt theo ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng, chấm dứt theo ý chí của một bên trong quan hệ hợp đồng và chấm dứt do sự kiện khách quan. Trong đó, ĐPCDTHHĐ thực chất chính là trường hợp cham dứt hợp đồng theo ý chí của một bên trong quan hệ hợp đồng. Điều nay là do thuật ngữ “đơn phương” có thể được hiểu là “ý chí của một bên, không có sự thỏa thuận hoặc sự tham gia của bên kia`”. Trường hợp chấm dứt hợp đồng theo ý chí của một bên thường được các học giả sẵn với việc vi phạm hợp đồng, mà đặc biệt là các vi phạm cơ bản hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng”.
Theo đó, khi một bên vi phạm hợp đồng ở một mức độ nhất định, pháp luật có thể trao cho bên bị vi phạm quyên được cham dứt thực hiện hợp đồng theo ý chi của họ mà không phụ thuộc vào bên còn lại. Do vậy, cũng có một số quan điểm cho rằng ĐPCDTHHĐ có thể được xem như một ngoại lệ của nguyên tắc pacta sunt servanda, cho phép một bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng”. Cho đù là một căn cứ phổ biến, tuy nhiên vi phạm hợp đồng không phải là căn cứ duy nhất dé ĐPCDTHHĐ. Trên cơ sở học thuyết về tự đo ý chí trong hợp đồng hay học thuyết về sự đánh đổi trong học đồng”, các nhà làm luật cũng có thể ghi nhận thỏa thuận của các bên hoặc các trường hợp khác như việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không mang lại lợi ích cho một bên là các căn cứ để đơn phương chấm dứt hợp đồng.