CHƯƠNG 1 Khả năng cạnh tranh của TPLPs phụ thuộc vào năng lực tạo ra sự đổi mới của doanh nghiệp và ngược lại sự đổi mới sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho TPLPs (Wagner & Sutter, 2012). Trong lĩnh vực Logistics, đổi mới không chỉ bắt nguồn từ trong nội bộ của doanh nghiệp mà nó còn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa LSPs và 123doc 8 khách hàng (Walleenburg, 2009). Thông qua các dự án đổi mới cùng khách hàng, các LSPs không chỉ nâng cao được vị thế của mình mà còn tăng cường được mối quan hệ với khách hàng cũng như cải thiện được năng lực hoạt động. Cả Flint & cộng sự (2005) và Walleenburg (2009) đều thống nhất rằng các LSPs cần phải đổi mới hơn nữa trong việc đáp ứng với những thay đổi mà khách hàng phải đối mặt.
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay những nghiên cứu về đổi mới trong lĩnh vực Logistics vẫn còn rất hạn chế. Nhận thấy những vấn đề trên nên tác giả đã quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu về sự đổi mới trong quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng”, trước hết là để tìm hiểu về sự đổi mới hình thành trong mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng thông qua các tình huống trong thực tế. Từ đó xem xét những nhân tố ngẫu nhiên nào thúc đẩy dự án đổi mới trong mối quan hệ hợp tác giữa TPLPs và khách hàng, kết quả thu được của dự án đổi mới đối với TPLPs và đối với mối quan hệ giữa TPLPs và khách hàng là gì; có sự khác biệt gì giữa một TPLPs là công ty đa quốc gia với một TPLPs là công ty của Việt Nam. Từ các kết luận trên đưa ra các giải pháp và khuyến nghị cho các TPLPs của Việt Nam trong quá trình tạo ra và duy trì đổi mới để cạnh tranh cùng các công ty Logistics nước ngoài.
123doc 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA NGHIÊN CỨU 2. Những vấn đề lý luận cơ bản: 2. Third Party Logistics (TPL): Có khá nhiều định nghĩa về TPL của các nhà nghiên cứu trên thế giới, trong một số nghiên cứu thì TPL được xem như là sự mở rộng của hoạt động kho vận ra bên ngoài, trong một số nghiên cứu khác thì thuật ngữ này được sử dụng để mô tả hoạt động thuê ngoài của các tổ chức có thể xuyên suốt toàn bộ hoạt động Logistics của họ (Marasco, 2008). Theo Berglund & cộng sự (1999) thì TPL được xem là một hình thức Logistics trong đó nhà cung cấp dịch vụ Logistics (LSPs) thay mặt cho chủ hàng thực hiện việc vận chuyển và lưu kho; có thể kèm thêm các hoạt động tùy biến khác như quản trị hàng tồn kho, hoạt động thông tin liên quan như “track & trace” (hệ thống tra cứu hàng hóa), hoạt động tạo giá trị gia tăng như đóng gói, cài đặt sản phẩm,…; và được đặc trưng bởi điều kiện thỏa thuận hợp tác lâu dài (hợp đồng ít nhất là một năm) để phân biệt với hoạt động giao nhận truyền thống dựa trên các giao dịch ngắn hạn (transaction-by-transaction).
Định nghĩa này nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa chủ hàng và bên thứ ba, khi đem so sánh với các dịch vụ giao nhận vận tải cơ bản, đã có nhiều tùy biến hơn bởi việc mở rộng số lượng dịch vụ và sự lâu dài trong mối quan hệ giữa hai bên. Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2010) thì TPL là một hình thức Logistics trong đó LSPs là người thay mặt cho khách hàng của mình quản lí và thực hiện các dịch vụ Logistics tổng hợp và xuyên suốt, các dịch vụ gia tăng giá trị như lắp ráp, đóng gói, dán nhãn hàng hóa, và trở thành một bộ phận thiết yếu của công ty khách hàng. Theo đó, các nhà sản xuất và bán lẻ quản lí chuỗi cung ứng của mình bằng cách gia tăng thuê ngoài các hoạt động Logistics của mình cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics (LSPs), Một LSPs sẽ thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động Logistics cho khách hàng của mình tùy thuộc vào năng lực và loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, từ các dịch vụ như vận chuyển hàng hóa, cho thuê kho bãi,.cho đến việc lắp ráp và cài đặt sản phẩm, thậm chí là vận hành cả chuỗi cung ứng (Lai & 123doc 10 cộng sự, 2004). Các LSPs quản lí, kiểm soát và thực hiện các dịch vụ Logistics tích hợp vào chuỗi cung ứng của khách hàng được xem là các TPLPs (Wagner & Stutter, 2012).
Theo Bask (2001) thì TPL là một thuật ngữ được sinh ra theo mối quan hệ cặp đôi giữa ba bên là người bán, người mua và TPLPs trong chuỗi cung ứng: (1) Quan hệ giữa người bán và TPLPs, (2) Quan hệ giữa người mua và TPLPs, (3) Quan hệ giữa người mua và nguời bán trong chuỗi cung ứng. TPL được xem như là vị trí mà nhà cung cấp dịch vụ Logistics (LSPs) cung cấp dịch vụ của mình cho hai bên còn lại trong chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp những mối quan hệ TPL chỉ dừng lại trong mối quan hệ giữa người bán và LSPs hoặc giữa người mua và LSPs, và trong một chuỗi cung ứng có thể có nhiều mối quan hệ ba bên này cùng tồn tại. Khi định nghĩa về TPL thì Bask (2001, trang 474) cho rằng: “Third Party Logistics là những mối quan hệ giữa các bên trong chuỗi cung ứng với các TPLPs, nơi mà các dịch vụ Logistics được cung cấp từ dịch vụ cơ bản đến các dịch vụ tùy chọn, trong ngắn hạn hoặc dài hạn, theo các mục đích về hiệu suất và hiệu quả riêng”.
Đây được xem như là một định nghĩa rộng về TPL, Marasco (2008) cũng cùng thống nhất với định nghĩa trên. Định nghĩa này được tác giả sử dụng xuyên suốt trong luận văn vì nó chỉ ra được bản chất của khái niệm TPL xuất phát từ các mối quan hệ B2B, nơi mà các bên thứ ba đáp ứng đầy đủ các nhu cầu dịch vụ Logistics cho khách hàng trong chuỗi cung ứng, đồng thời nó cũng đề cập đến tiềm năng của việc mở rộng các mối quan hệ này theo phạm vi, nội dung và thời hiệu của các dịch vụ Logistics mà TPLPs cung cấp (Bask, 2001). Theo đó, định nghĩa TPLPs và LSPs được xem là tương đương nhau và được gọi chung là nhà cung cấp dịch vụ Third Party Logistics (TPLPs). Phải lưu ý rằng, theo định nghĩa trên thì TPL là một tập hợp các mối quan hệ ba bên giữa người bán, người mua và TPLPs trong chuỗi cung ứng là chưa đủ.
Như Bask (2001) và Marasco (2008) đã đề cập, hình thức bộ ba này không phải là trường hợp chung cho TPL bởi hầu hết các mối quan hệ ba bên bị che lấp bởi quan hệ giữa người bán và LSPs hoặc giữa người mua và LSPs. Theo đó, hầu hết các nghiên cứu 123doc 11 chỉ tập trung vào giải quyết mối quan hệ hai chiều giữa LSPs với người mua hoặc với nhà cung cấp hàng hóa (Marasco, 2008). Trong luận văn này, khái niệm TPL là mối quan hệ cặp đôi giữa chủ hàng (người bán hoặc người mua) và LSPs trong chuỗi cung ứng cũng sẽ được sử dụng và chấp nhận. Ngày nay, một số chủ hàng còn hướng tới việc sử dụng “one-stop shopping” nghĩa là với chỉ một LSPs đầu mối duy nhất (Lead Logistics Provider) cho tất cả các hoạt động Logistics của mình, để đáp ứng được nhu cầu đó một TPLPs phải đủ khả năng cung cấp các dịch vụ trên diện rộng từ phương diện địa lí cho đến chủng loại dịch vụ với các giải pháp công nghệ tinh vi.
Các TPLPs không đáp ứng được yêu cầu buộc phải thực hiện dịch vụ thông qua các hợp đồng phụ với “Lead Logistics Provider”, đồng thời chấp nhận lợi nhuận cũng như cơ hội phát triển ít hơn (Wagner & Stutter, 2012). Do đó, ngoài ba mối quan hệ mà Bask (2001) đã đề cập đến thì còn xuất hiện thêm mối quan hệ phụ giữa TPLPs và Lead Logistics Provider, lúc này Lead Logistics Provider sẽ đóng vai trò là khách hàng của TPLPs, và cả TPLPs lẫn Lead Logistics Provider đều cung cấp dịch vụ của mình cho chủ hàng mặc dù bản chất của Lead Logistics Provider cũng là một TPLPs xét trong mối quan hệ với chủ hàng. Vì vậy, khái niệm TPL là mối quan hệ cặp đôi giữa một TPLPs với một Lead Logistics Provider cũng được chấp nhận trong luận văn này. Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước, nhằm chỉ những hoạt động của con người làm thay đổi những cái cũ, lạc hậu bằng cái mới tiến bộ hơn (Phạm Thị Phượng Linh, 2012).
Theo Roger (2005) thì đổi mới là một ý tưởng, một chủ thể hoặc quy trình được xem là mới với cá nhân hoặc tổ chức. Khi nhắc đến đổi mới mọi người thường nhầm lẫn giữa các khái niệm: sáng tạo (creativity), đổi mới (innovation) và sáng chế (invention) với nhau. Sáng tạo chỉ là một ý tưởng, một hành động mang tính khác lạ, chưa mang tính thực tiễn, đổi mới 123doc 12 là việc thực hiện một thứ gì đó mới và mang tính thực tiễn, còn sáng chế là việc tạo ra một cái gì đó mà chưa từng có trước đó đồng thời nó được công nhận là một sản phẩm chứa đựng hiểu biết sâu sắc và có tính độc đáo (Paul Sloane, 2012). Ví dụ: trong một buổi họp của công ty, mỗi người đề xuất một ý tưởng về sản phẩm sắp tới của công ty và có nhiều ý kiến được đưa ra.
Các ý kiến này chỉ là sự sáng tạo, cho đến khi một ý tưởng được chọn ra và thực hiện thì lúc này mới là đổi mới, vì vậy mọi sự đổi mới đều là sáng tạo. Mỗi một sự cải tiến, một sáng chế đều được xem là đổi mới. Nhưng không phải đổi mới nào cũng là sáng chế vì sáng chế phải sản phẩm hoặc là cái chưa từng có trước đó. Một sự đổi mới không nhất thiết phải là mới với thế giới mà nó chỉ cần mới đối với người nắm giữ nó mà thôi (Flint & cộng sự, 2005).
Bất kì dịch vụ Logistics nào có tính mới hoặc hữu ích đối với đối tượng mà LSPs hướng tới đều được xem là đổi mới. Các đối tượng này có thể ở trong doanh nghiệp khi đổi mới hướng tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động hoặc nằm bên ngoài doanh nghiệp khi đổi mới để phục vụ khách hàng tốt hơn. Trong luận văn này đổi mới được định nghĩa là mức độ mà đối tượng của TPLPs cảm nhận về các dịch vụ được cung cấp bởi TPLPs như là một giải pháp mới hoặc giải pháp hữu ích thỏa mãn nhu cầu của họ (Wagner & Stutter, 2012).