CHƯƠNG 1: NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VÀ TÍNH TẤT YẾU PHẢI ĐỔI MỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Nguồn lực con người và đổi mới quan điểm của Đảng về nguồn lực con người 1. Quan niệm về con người và nguồn lực con người Quan niệm về con người Trong ý nghĩa chung nhất, vấn đề con người là vấn đề trung tâm của triết học ở mọi thời kỳ lịch sử. Ngay từ thời cổ đại, Xôcrat đã nâng con người lên vị trí cao bằng mệnh đề “Triết học là sự tự ý thức của con người về chính bản thân mình”.
Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và sản xuất, các học thuyết triết học đã chứng minh được sức mạnh vĩ đại của con người, chính vì vậy, một số nước đã đưa ra khẩu hiệu: con người hãy thờ phụng chính bản thân mình, chiêm ngưỡng cái đẹp của chính mình. Tuy nhiên, các nhà triết học đã chưa đưa ra được một khái niệm đúng đắn về con người “Protago cho rằng “Con người là thước đo của vạn vật”, Aristote quan niệm “Bẩm sinh, con người là một động vật chính trị” hay Pascal cho rằng “Con người là cây sậy biết suy nghĩ”, theo B.Franklin thì “Con người – động vật biết chế tạo công cụ lao động” và phải đến khi tác phẩm Bản thảo kinh tế triết học năm 1844 của Mác ra đời chúng ta mới có một khái niệm đầy đủ về con người” [26, tr. Trong Bản thảo kinh tế triết học năm 1844 Mác đã khẳng định “con người là thực thể tự nhiên có tính chất người” [44, tr. Thực chất, quan niệm xem con người là một thực thể tự nhiên xuất phát từ tư tưởng của Feuerbach – người được Mác đánh giá là đã có công “làm cho quan hệ xã hội của con người 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với con người trở thành nguyên tắc cơ bản của lý luận” [44, tr.
Feuerbach cho rằng, con người là một thực thể đặc biệt của tự nhiên vì nó là thực thể duy nhất có ý thức. Tuy vậy, việc xác định bản chất của nó cũng cần phải được tiến hành tương tự như đối với mọi sự vật khác, tức là phải xác định bằng tính chất của các đối tượng bên ngoài như không khí, nước, ánh sáng… Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và phát triển những lý di sản lý luận mácxít trước đó và dựa vào những thành tựu của khoa học tự nhiên, triết học Mác khẳng định rằng giới tự nhiên là cái có trước, con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên. Con người bước vào lịch sử với những điều kiện tồn tại không có sẵn như động vật mà phải lao động để tạo ra những điều kiện phục vụ cho nhu cầu sống của bản thân mình. Đóng góp lớn nhất của Mác là không những chỉ cho ta thấy rằng bản chất của con người là do hoàn cảnh xã hội thực tiễn quy định, mà còn ở chỗ nhận thấy tính tích cực và tính sáng tạo của con người với tư cách là chủ thể hoạt động.
Con người luôn là chủ thể của lịch sử xã hội, “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục cái học thuyết quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo cũng cần phải được giáo dục” [39, tr. Hoạt động sáng tạo ra lịch sử chân chính của con người đã khiến con người từ chỗ phụ thuộc tự nhiên sang làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội của chính mình. Nhờ những hoạt động đó mà những mối quan hệ xã hội của con người mới được phát triển đầy đủ, tạo thành bản chất riêng của con người. Như vậy, Mác là người đầu tiên phát hiện ra lao động là cơ sở để tạo nên các quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người và với chính bản thân mình; đồng thời phát hiện ra vai trò của các mối quan hệ xã hội trong việc hình thành nên bản chất con người.
Do đó, trong Luận cương về Feuerbach, Mác đã viết “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội” [39, tr. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nói đến quan hệ xã hội, trước hết là nói đến quan hệ giữa người với người trong quá trình lao động sản xuất nhằm sản sinh và tái sản sinh ra chính bản thân con người. Đó là một tất yếu khách quan mà nếu không có nó thì con người không thể sản xuất và tồn tại được. Trong quá trình sản xuất, họ không ngừng tác động vào tự nhiên mà còn tác động lẫn nhau, con người không thể sống tách riêng như một cá nhân riêng lẻ vì sống như thế họ sẽ không thể trở thành con người.
Điều này đã đánh dấu một bước phát triển mới trong quan điểm cơ bản của lịch sử triết học về bản chất con người. Tính hiện thực của bản chất con người cần phải đặt trong hoạt động sản xuất vật chất vì nó là hoạt động đầu tiên, căn bản và quyết định các hoạt động khác. Thông qua hoạt động sản xuất của cải vật chất mà con người hình thành nên các quan hệ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa… Như vậy, bản chất của con người là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội. Bản chất đó chỉ được hình thành và phát triển trong lòng xã hội, thông qua các quan hệ xã hội.
Quan niệm của Mác về bản chất con người đã khắc phục những hạn chế của các quan niệm trước đây tạo nên bước ngoặt lớn trong lịch sử nhận thức triết học về con người và nâng nó lên một tầm cao mới. Công lao to lớn của ông là ở chỗ, lần đầu tiên trong lịch sử, những vấn đề về bản chất và tồn tại của con người, về sự phát triển nhân cách toàn diện của cá nhân, về vị trí, vai trò của con người trong đời sống xã hội đã được giải quyết một cách khoa học, được gắn liền với đời sống xã hội với thực tiễn lịch sử và phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động trên toàn thế giới, gắn liền với sự phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại. Nhưng bản chất con người không chỉ là sự thống nhất giữa các yếu tố tự nhiên và các yếu tố xã hội, mà con người còn là chủ thể làm nên lịch sử. Đó là lịch sử phát triển của giới tự nhiên và xã hội trong việc hình thành con 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người.
Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, Mác khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người là quá trình lịch sử tự nhiên, là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, của các nền văn minh, văn hóa gắn liền với quá trình tiến hóa, phát triển của con người, của xã hội loài người. Bằng hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của mình, con người không chỉ phát triển, hoàn thiện bản thân của mình mà còn sáng tạo ra lịch sử của chính mình. Mác viết “Lịch sử xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người” [43, tr. Trong quá trình hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động thực tiễn của mình, con người đã tác động vào tự nhiên, từ đó không ngừng in dấu ấn vào tự nhiên, cải tạo hoàn cảnh, phát triển lực lượng sản xuất.
Vì thế, trong con người luôn tồn tại với hai tư cách – con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quá trình phát triển lịch sử. Con người là sản phẩm của tự nhiên song chính con người lại là nguyên nhân của tất cả những biến đổi trong tự nhiên. Bằng hoạt động lao động con người đã tạo ra những tiền đề, điều kiện sinh sống và xã hội của mình. Theo Mác thì hoàn cảnh cũng chỉ tạo ra con người trong chừng mực con người tạo ra hoàn cảnh.
Đó là biểu hiện của mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Như vậy, con người đã tạo ra hoàn cảnh phù hợp với tính người để phát triển bản chất của mình và hoàn thiện nhân cách. Con người là sản phẩm của tự nhiên, nhưng đến lượt mình con người lại cải thiện chính tự nhiên đó vì mục đích sinh tồn và phát triển của mình. Trong khi chinh phục tự nhiên, con người thực hiện với tư cách là một thành viên của một cộng đồng xã hội.
Với tư cách đó, con người luôn có quan hệ với nhau và với tự nhiên. Vì thế, khi xem xét đến tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, theo triết học Mác phải xuất phát từ cơ sở tự nhiên và những thay đổi của chúng do hoạt động của con người gây ra trong quá trình lịch sử. Tóm lại, bản chất con người trong triết học Mác là sự gắn bó chặt chẽ, hòa quyện và xâm nhập vào nhau tạo thành một thể thống nhất giữa các yếu tố tự 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên, xã hội. Nếu như yếu tố tự nhiên là cơ sở để phát triển yếu tố xã hội trong con người thì yếu tố xã hội là cái quyết định làm nên bản chất con người.
Theo quan điểm mácxit, xã hội dưới bất kỳ hình thức nào cũng là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa người và người. Do vậy, xã hội chỉ tồn tại khi có các cá nhân sống và sự tác động qua lại giữa họ. Cá nhân càng phát triển về thể lực và trí lực thì càng có điều kiện thúc đẩy xã hội phát triển. Vai trò của cá nhân có ảnh hưởng tới xã hội tùy thuộc vào trình độ phát triển nhân cách.
Những cá nhân có nhân cách lớn, có tài năng, phẩm chất kinh nghiệm, có trách nhiệm cao với xã hội sẽ góp phần thúc đẩy xã hội càng phát triển hơn. Những cá nhân bị thoái hóa, biến chất sẽ gây hậu quả xấu đến xã hội, cản trở sự phát triển của xã hội. Trong khi không xem nhẹ vai trò của cá nhân, triết học mácxit dành sự chú ý đặc biệt cho vai trò của quần chúng trong việc sáng tạo lịch sử. Họ là những người góp phần giải quyết những nhiệm vụ do lịch sử đặt ra để thúc đẩy xã hội phát triển, trong đó những người lao động sản xuất ra của cải vật chất được xem là hạt nhân cơ bản.