Chương I. Cơ sở lý luận của việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay. Vị trí pháp lý và chức năng nhiệm vụ của Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vị trí pháp lý của Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam Tuỳ vào đặc điểm của hệ thống chính trị của mỗi nƣớc, vị trí pháp lý của Quốc hội ở các nƣớc khác nhau là khác nhau.
Nhiều nƣớc Quốc hội bao gồm hai viện (Thƣợng viện và Hạ viện), các nƣớc XHCN không tổ chức Quốc hội thành hai viện. Điều 83 Hiến pháp 1992 đã xác định "Quốc hội là cơ quan cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử chi cả nƣớc bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Quốc hội là cơ quan Nhà nƣớc tập hợp trí tuệ toàn dân tộc, thể hiện khối đại đoàn kết nhân dân. Nhƣ chúng ta biết khi đề cử các ứng cử viên ra tranh cử đại biểu Quốc hội bao giờ cũng chú trọng khả năng và trí tuệ để tham gia, đại diện cho các tầng lớp nhân dân, các vùng lãnh thổ khác nhau, cơ cấu về lứa tuổi, giới tính, đại diện cho các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, lực lƣợng vũ trang.
Qua các bản hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đều quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất, bên cạnh đó Nhà nƣớc Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 chúng ta tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, quyền lực nhà nƣớc tập trung thống nhất ở Quốc hội và thể hiện Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia về đối nội và đối ngoại, an ninh quốc phòng, kinh tế xã hội; giám sát toàn bộ hoạt động của Nhà nƣớc. Nhƣ trên đã trình bày do tính chất nhà nƣớc khác nhau thì việc quy định về mô hình hệ thống chính trị sẽ khác nhau dẫn đến vị trí pháp lý Quốc hội mỗi nƣớc khác nhau. Khác với thuyết tam quyền phân lập của Montecxquee phân chia rành mạnh 3 quyền (lập pháp, hành pháp, tƣ pháp), ở nƣớc ta thực hiện sự phân nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Viện Kiểm sát.
Để làm rõ địa vị pháp lý của Quốc hội, chúng ta sẽ xem xét trong mối quan hệ của Quốc hội với Chính phủ, của Quốc hội với Toà án nhân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Mối quan hệ của Quốc hội và Chính phủ Chính phủ là cơ cơ quan hành chính Nhà nƣớc cao nhất, là cơ quan chấp hành của Quốc hội nƣớc ta. Quốc hội bầu, miễn, bãi nhiệm Thủ tƣớng theo đề nghị của Chủ tịch nƣớc ; phê chuẩn đề nghị của Thủ tƣớng về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tƣớng và các thành viên còn lại của Chính phủ. Chính phủ chịu trách nhiệm trƣớc Quốc hội, báo cáo công tác của Chính phủ với Quốc hội (Trong khi Quốc hội không họp thì Uỷ ban thƣờng vụ thay mặt Quốc hội nghe báo cáo hoặc phê chuẩn đề nghị của Thủ tƣớng nhƣng phải báo cáo lại với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất).
Mối quan hệ của Quốc hội với Toà án nhân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất ở nƣớc ta, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Quốc hội bầu, miễn, bãi nhiệm Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trƣởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao.
Chánh án toà án nhân dân tối cao, Viện trƣởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc Quốc hội (trong khi Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc Uỷ Ban Thƣờng vụ Quốc hội và Chủ tịch nƣớc). Chức năng của Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo điều 83 Hiến pháp 1992 Quốc hội nƣớc ta có 3 chức năng : - Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. - Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nƣớc , những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. - Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nƣớc.
Về chức năng- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chƣơng trình xây dựng luật và pháp lệnh. Chủ tịch nƣớc, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân tối cao, Viện kiểm sát Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 nhân dân tối cao, Mặt trận tổ quốc, các thành viên của Mặt trận, các đại biểu Quốc hội có quyền trình dự án luật. Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật với Quốc hội.
Dự án luật trƣớc khi trình Quốc hội phải đƣợc Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra, cho ý kiến và gửi đến các đại biểu Quốc hội nghiên cứu, lấy ý kiến trƣớc khi khai mạc kỳ họp. Đối với những dự án luật cần thiết phải lấy ý kiến rộng rãi sẽ đƣợc công bố để các cấp các ngành, nhân dân tham gia ý kiến trƣớc khi trình Quốc hội. Trong kỳ họp Quốc hội, dự án luật đƣợc thảo luận ở trong tổ đại biểu hoặc ở các phiên họp toàn thể để tất cả các đại biểu tham gia. Luật chỉ đƣợc thông qua khi quá nửa số đại biểu tán thành.
Sau khi Quốc hội đã thông qua, Chủ tịch nƣớc ký chứng thực và công bố chậm nhất mƣời lăm ngày kể từ ngày Quốc hội thông qua. Về chức năng - Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nƣớc , những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ điều hành và quản lý đất nƣớc, nhƣng với vị trí pháp lý của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất, Quốc hội sẽ quyết định về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định ngân sách nhà nƣớc, phân bổ ngân sách, phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách nhà nƣớc (vấn đề này dự thảo sửa đổi về ngân sách chi tiêu cấp Tỉnh trở xuống) ; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ, các cơ quan ngang Bộ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt. Quốc hội quyết định đại xá, trƣng cầu dân ý. Quốc hội quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp bảo đảm đặc biệt khác về quốc phòng và an ninh quốc gia. Quốc hội cũng quyết định những chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ƣớc quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nƣớc.
Về chức năng - Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nƣớc. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội đƣợc thực hiện thông qua việc: Quốc hội xem xét các báo cáo hoạt động của Chủ tịch nƣớc, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nƣớc, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội. Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội. Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có quyền yêu cầu các cơ quan tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, báo cáo về vấn đề thuộc nội dung đƣợc phân công giám sát. Trong quá trình giám sát nếu phát hiện vi phạm pháp luật, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chấm dứt việc vi phạm, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền khác về biện pháp giải quyết và báo cáo với Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội, sau đó thông báo kết quả đến các cơ quan hữu quan. Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nƣớc, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tƣớng Chính phủ, Bộ trƣởng, các thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trƣởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Ngƣời bị chất vấn phải trả lời trƣớc Quốc hội; nếu cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trƣớc Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc bằng văn bản.