Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học về mạng lưới sản xuất ô tô khu vực Đông Á Chương 2 : Khung logic và phương pháp nghiên cứu 4 z Chương 3: Thực trạng doanh nghiệp Việt Nam trong mạng lưới sản xuất ô tô khu vực Đông Á Chương 4: Định hướng và giải pháp đối với doanh nghiệp Việt Nam nhằm tham gia hiệu quả vào mạng lưới sản xuất ô tô khu vực Đông Á 5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ MẠNG LƢỚI SẢN XUẤT Ô TÔ KHU VỰC ĐÔNG Á 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam với lịch sử phát triển hơn 20 năm qua, được xác định là lĩnh vực quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và luôn là trọng tâm của những chính sách ưu đãi, hỗ trợ từ phía chính phủ. Với tính chất quan trọng như vậy, đây là đề tài thu hút sự chú ý của nhiều học giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên các bài viết trong nước hầu như tập trung vào phân tích sự phát triển toàn ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hoặc ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô hoặc chính sách bảo hộ ngành công nghiệp ô tô trong nước, chưa có đề tài đánh giá vai trò của các doanh nghiệp Việt Nam trong mạng lưới sản xuất ô tô Đông Á.
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng giữa các quốc gia đặc biệt là các quốc gia trong khu vực đã có nền công nghiệp phụ trợ phát triển tốt, sự cạnh tranh càng lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải có chiến lược cụ thể và rõ ràng để đi đúng nhằm mục đích duy trì sự phát triển của nền công nghiệp ô tô trong nước. Thông qua các công trình nghiên cứu, các bài báo cáo hay qua các tạp chí chuyên ngành, các học giả muốn gửi gắm thông điệp riêng đến chính phủ Việt Nam những đóng góp nhằm phát triển ngành công nghiệp sản xuất ô tô trong nước. Các nghiên cứu về mạng lưới sản xuất ô tô khu vực Đông Á Henderson và các cộng sự (2002) đã phác thảo một khung khổ phân tích về lý thuyết mạng sản xuất toàn cầu dựa trên hội nhập kinh tế và mối quan hệ với sự phát triển bất đối xứng của kinh tế và xã hội. Dựa trên những nỗ lực trước đó để phân tích các hoạt động của các MNCs, cấu trúc không gian và kết quả phát triển, điểm nổi bật của bài viết là đưa ra đề xuất các khung khổ 6 z của GPN, xem xét những khái niệm được đưa vào khung khổ này qua một số chi tiết và sau đó chuyển sang phác họa ví dụ cách điệu của một GPN, từ đó đưa ra những kết luận ngắn gọn lợi ích có được từ GPN.
Cheewatrakoolpong và các cộng sự (2013) đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng sự xuất hiện của GPN ở khu vực Đông Á là do định hướng thị trường như chuyên môn hóa theo chiều dọc và chi phí sản xuất cao hơn ở các nước đầu tư, ngoài ra cũng có thể do định hướng thể chế như các hiệp định thương mại tự do. Bên cạnh đó, sự suy giảm tỷ trọng của thương mại thành phần ở một số nước thành viên của ASEAN như Indonesia và Thái Lan cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của các nước ASEAN trong việc trở thành cơ sở lắp ráp cho các MNCs Nhật Bản. Bài nghiên cứu đã xem xét cấu trúc thương mại nội ngành theo chiều dọc giữa các nước Đông Á, đặc biệt là các nước thành viên của ASEAN. Nghiên cứu cũng chỉ ra tầm quan trọng của Trung Quốc và Thái Lan trong việc làm cơ sở lắp ráp.
Biswajit Nag và các cộng sự (2007) đã chỉ ra những đặc trưng của nền công nghiệp ô tô tại các nước châu Á trong đó bao gồm các nước thuộc khu vực Đông Á như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan qua việc so sánh cấu trúc sản phẩm, thương mại và thị trường của các quốc gia trên. Nghiên cứu đã đưa ra những khác biệt cụ thể của nền công nghiệp ô tô mỗi quốc gia, bước đầu đưa ra những thông tin cho thấy về một mạng lưới sản xuất của các quốc gia trong khu vực, tuy nhiên còn chưa cụ thể và chi tiết, hơn nữa nghiên cứu còn chưa đề cập tới Việt Nam bởi giai đoạn trong báo cáo nghiên cứu trên, nền công nghiệp ô tô Việt Nam chưa thực sự phát triển, doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự tham gia vào mạng lưới sản xuất ô tô trong khu vực. Báo cáo “Global production networking and technological in East Asia”, 2004, World Bank và Oxford University Press, là tập hợp các nghiên cứu, 7 z phân tích về các vấn đề liên quan mạng lưới sản xuất toàn cầu và công nghệ, đặc biệt nghiên cứu sâu vào sự thay đổi của các vấn đề đó tại khu vực Đông Á. Tại chương 4, “Production networks in East Asia’s Automobile parts industry” được viết bởi Richard F.
Noble, and John Ravenhill đã phân tích vào nghiên cứu kĩ lưỡng về mạng lưới sản xuất ô tô của các nước trong khu vực Đông Á, bao gồm Hàn Quốc,Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia trong giai đoạn đến năm 2004. Trong đó, báo cáo chỉ ra vai trò của từng quốc gia trong mạng lưới đó, cơ hội và thách thức của từng nước. Dựa vào số liệu thống kê tới năm 2004, báo cáo có những đánh giá quan trọng về sự thay đổi cũng như phát triển của mạng lưới sản xuất ô tô khu vực Đông Á. Tuy nhiên, báo cáo chưa đề cập tới nền công nghiệp ô tô Việt Nam do vào khung thời gian nghiên cứu, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn chưa phát triển tương xứng với các quốc gia trong khu vực, chưa trở thành một phần của mạng lưới sản xuất Đông Á.
Hideo Kobayashi và Yingshan (2015) đã có những phân tích quan trọng về nền công nghiệp của các quốc gia thuộc nhóm CLMV bao gồm Cambodia, Lào, Myanmar, Việt Nam làm sao để trở thành một phần của mạng lưới sản xuất ô tô trong khu vực, trong đó có những khuyến nghị đáng chú ý được đề ra để các doanh nghiệp thuộc các nước nhóm CLMV trở thành các nhà cung cấp cho các nước như Thái Lan, Hàn Quốc – các nước có nền công nghiệp hỗ trợ phát triển. Tuy nhiên bài viết tập trung chủ yếu vào lý thuyết, thiếu số liệu dẫn chứng cụ thể do đó luận văn có thể dựa vào các luận điểm trong bài viết trên để triển khai các nghiên cứu dựa trên số liệu cụ thể hơn để tập trung đánh giá vai trò của doanh nghiệp Việt Nam trong mạng lưới sản xuất ô tô khu vực Đông Á. Peter Wad (2009) khái quát về ngành công nghiệp ô tô của Thái Lan và Malaysia, đồng thời so sánh với các nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á 8 z như Indonesia, Philippines, Việt Nam dựa trên các số liệu về xuất khẩu nhập các loại ô tô và linh kiện, số liệu về quy mô thị trường tiêu dùng sản phẩm. đồng thời cũng thống kê một cách hệ thống các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp ô tô mỗi nước, Thái Lan và Malaysia.
Tuy nhiên, bài viết chưa đánh giá một cách cụ thể vai trò của mỗi nước trong mạng lưới sản xuất ô tô khu vực Đông Á, mặc dù vậy bài viết cũng đã cung cấp những thông tin, số liệu quan trọng cho nghiên cứu của luận văn. Nguyễn Hiền Thu (2012) với luận văn thạc sĩ Kinh tế “Kinh nghiệm tham gia mạng sản xuất toàn cầu ngành ô tô của Trung Quốc và gợi ý cho Việt Nam” tại trường ĐH Kinh Tế - ĐHQG Hà Nội đã đi sâu phân tích cụ thể quá trình tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu ngành ô tô của Trung Quốc từ năm 1994 khi Trung Quốc mở rộng hội nhập và xác định xây dựng các ngành công nghiệp trụ cột trong đó có ngành công nghiệp ô tô với những mục tiêu cải thiện công nghiệp hỗ trợ, sản xuất linh kiện; khuyến khích phát triển thị trường tiêu dùng, cải thiện quy mô sản xuất hình thành nên các công ty lớn. Luận văn đã làm rõ các chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô của Trung Quốc, từ đó đưa ra những kinh nghiệm và khuyến nghị quan trọng đối với việc tham gia vào mạng sản xuất ô tô toàn cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung phân tích và đánh giá quá trình tham gia của Trung Quốc trong mạng sản xuất toàn cầu nên chưa cụ thể được vị thế và vai trò của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong khu vực Đông Á.
Các nghiên cứu về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam: Kenichi Ohno (2006) trong khuôn khổ dự án hợp tác nghiên cứu giữa Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và Viện nghiên cứu chính sách (National Graduate Institute for Policy Studies - GRIPS) ở Tokyo đã đánh giá thực trạng nền công nghiệp ô tô Việt Nam nói chung trước thềm hội nhập 9 z WTO, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các chính sách ưu đãi nền công nghiệp ô tô của Việt Nam trong giai đoạn bắt đầu thực hiện quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô theo Quyết định số 177/2004/QĐ-TTg ngày 05/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020. Báo cáo đã đánh giá sâu sắc các chính sách ưu đãi nền công nghiệp ô tô của Việt Nam, bao gồm cả những tác động tích cực và tiêu cực đồng thời đưa ra các khuyến nghị về mặt chính sách nhằm phát triển nền công nghiệp ô tô dựa trên nền tảng hoàn thiện chính sách, phát triển nền công nghiệp phụ trợ, phát triển và mở rộng thị trường tiêu dùng nội địa. Bài viết đã sớm dự báo thất bại trong việc sản xuất ô tô theo mục tiêu mà Quy hoạch của Chính phủ năm 2004 đề ra trong khi nền tảng kĩ thuật, công nghệ, cơ khí còn chưa thể đáp ứng; chỉ ra vấn đề cốt lõi chính là việc chọn chưa đúng hướng đi, xuất phát từ mục tiêu tiến tới phải sản xuất toàn bộ phụ tùng, linh kiện ô tô ngay tại Việt Nam. Trong khi công nghiệp ô tô trong bối cảnh hiện nay đã trở thành ngành công nghiệp toàn cầu và những nhà sản xuất chỉ nắm những công nghệ cơ bản, còn việc sản xuất có thể thực hiện ở bất cứ đâu họ cảm thấy có lợi nhất.